Những Lễ Hội Đặc Sắc Của Bà Con Dân Tộc Sơn La

Tue, 05/09/2017 | 150 lượt xem

Những Lễ Hội Đặc Sắc Của Bà Con Dân Tộc Sơn La
5 (100%) 2 votes

Dường như lễ hội là cái hồn của đời sống tinh thần người dân mỗi dân tộc.Đến với Sơn La, ngoài ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, nơi có những rừng đào, rừng ban, vườn cải trắng thì lễ hội mang lại một nét riêng ,hấp dẫn cho du lịch Sơn La. Mỗi một dân tộc Sơn La lại có những lễ hội riêng.Nếu người miền xuôi có “mùa lễ hội” là mùa xuân thì ở Lai Châu, lễ hội phụ thuộc vào tín ngưỡng mà họ thờ cúng. Hãy cùng khám phá những lễ hội đọc đáo này nhé

Xem thêm: Tour Du Lịch Tây Bắc 4 ngày 3 đêm

Lễ Hội Xên Mường Của Người Thái Đen

Lễ hội “Xên Mường”, hay còn gọi Lễ hội Hoa Ban tại “Đông xên” bản Mé, xã Chiềng Cơi, thành phố Sơn La được tổ chức vào ngày 31/12. Đây là lễ hội cúng mường của người Thái đen, được phục dựng nhằm sưu tầm, lưu giữ, bảo tồn, giới thiệu lễ hội truyền thống của dân tộc Thái Đen vùng Mường La đã gần 80 năm nay bị lãng quên.

Lễ hội Xên Mường trước đây cứ 2 năm tổ chức 1 lần vào dịp năm hết, Tết đến và mùa màng đã được thu hoạch xong.Theo quan niệm của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc lễ hội tổ chức nhằm cầu cho vạn vật bảo vệ con người, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa,bản mường đoàn kết vượt khó khăn, giúp nhau xây dựng cuộc sống ngày ngày càng văn minh, tiến bộ và tốt đẹp hơn.

Địa điểm để tổ chức lễ hội xên Mường là một cánh rừng già được gọi là “Đông Xuyên”.Lễ vật bao gồm: Trâu , lợn, gà, sản vật, thóc gạo,hoa quả…

Lễ hội gồm các nghi lễ: Lễ rước Nàng Tánh về dự hội, bà Một cúng cầu may, lễ đi qua cầu Mường,lễ té nước cầu phúc.Phần lễ Xên Mường (cúng bản mường) người cúng chính là ông mo ,bà “một” gọi mời các vị thần linh như thần sông, thần núi, thổ địa, thần cai quản ruộng nương,vùng miền, linh hồn các người có công dựng bản mường, đất nước và những linh hồn của người trong bản Mường đã mất về dự,”thưởng thức” và nhận các lễ vật do con dân trong bản Mường dân lên.

Sau phần lễ là phần hội được diễn ra ngay sau khi phần lễ kết thúc, bao gồm các trò chơi dân gian :ném còn,tó má lẹ (một trò chơi dân gian),kéo co, bắn nỏ, trò chơi đánh chân đánh đầu, múa xoè bên đống lửa, tổ chức dân ca dân vũ, thăm hỏi, chúc tụng nhau .Kết thúc đêm hội, mọi người được hòa chung vòng xòe đoàn kết, uống rượu cần trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng.Trước đây, lễ hội Xên Mường tổ chức ăn chơi trong 3 ngày, nhưng ngày nay được rút ngắn xuống còn 1 ngày.Lễ hội là một phần đời sống người dân,thể hiện bản sắc văn hóa đọc đáo các dân tộc vùng Tây Bắc, làm đậm đà hơn văn hóa Việt Nam.

Lễ Hội Cầu An

Lễ hội cầu an thường được tổ chức vào cuối tháng giêng, đầu tháng 2 âm lịch hằng năm (dịp tết Nguyên Đán), tại Thuận Châu , Mộc Châu gắn liền với tịch giết trâu hiến sinh cầu và tạ thần linh.

Lễ hội cầu an cho bảm Mường là một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng người Tây Bắc,Lễ hội có liên quan đến đời sống vật chất , tinh thần thần, tâm linh của cả bản Mường đến mùa màng , sắc khỏe và sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, nên được tổ chức rất trọng thể , vui vẻ , thu hút sự tha gia của đồng bào ở địa vực lớn (bản, mường).

Lễ hội gắn liền với nghi lễ hiến sinh thờ thần nước, nguồn nước – vị thần gắn bó chặc chẽ với đời sống tâm linh của cộng đồng. Theo quan niệm lâu đời của người dân bản mường, nếu không tổ chức lễ cúng trong toàn bản, toàn mường, không hiến tế lễ vật (trâu,cặp trâu) cho tổ tiên và ác vị thần linh thì cuộc sống vật chất và tâm linh của con người trong cộng đồng sẽ gặp những trắc trở, không thuận lợi, thần linh không phù hộ cho nhân dân được bình an,vật thịnh cồng đồng làng xã vui tươi.

Thường người Lai Châu tổ chức lễ cầu an cho Mường trước , sau đó lần lượt làm lễ hội cầu a cho bản hoặc cho liên bản.Chính vì thế, ngày nay quy mô lễ hội to hay nhỏ , được kéo dài hay thu gọn phần lớn tùy thuộc vào thời tiết liên quan đến sự được mất của mùa màng năm tới, nhưng cũng phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của mùa màng năm vừa rồi.

Lễ hội được tiến hành ở đầu nguồn nước thuộc một bản làng được chọn gọi là bản Mòn.Đây là đầu nguồn nước thiêng, gần rừng thiêng, nơi cư trú của thần thuồng luồng đầy uy lực. Ở người Thái Mai Châu thì lễ hội được tổ chức ở gần bãi rộng gần đình như các lễ hội vởi vùng châu thổ đồng bằng Bắc bộ. Có nơi lại tổ chức ở miều thờ thổ công, thổ địa của bản, của gia đình, ở vườn và ở đầu ruộng. Thường thì mọi thứ chuẩn bị cho lễ hội được làm xong từ trước tết Nguyên Đán.

Lễ hội thường kéo dài trong 3 ngày ( có nơi 2 ngày một đêm).Nghi lễ cúng viếng cơ bản là hiến sinh trâu.Có nơi là một cặp trâu đực to, một trắng một đen cỡ mười tuổi trở lên)Hai trâu nhưng trâu trắng mới thực sự mang năng lượng thiêng để thành lễ vật tế thần (ở đây là thủy quái thuồng luồng -con ma to nhất dưới nước mà bà con thường gọi là phi ngược.)

Người chịu trách nhiệm chính trong tổ chức lễ hội cầu an bản Mường là A nha, nhưng người trực tiếp điều hành tại buổi lễ chính là thầy cúng hay còn gọi là mo mường.Dân chúng trong mường, ngoài bản bất kể già trẻ, trai gái đều có nghĩa vụ tham gia, đóng góp tùy vào sức mình và được quyền tham dự lễ hội của mường.

Nghi lễ giết trâu ở đây hết sức đơn giản,không quan trọng và hệ thống như nghi lễ đâm trâu, ăn trâu ở Tây Nguyên .Trước ngày hội chính thức, khoảng 2 đén 3 giờ chiều hôm ngày hôm trước, người ta đã làm lễ giết râu.Trước khi thịt trâu, ông mo mường và ông mò phăn (tức ông thầy chém , được dân mường chọn ra)làm lễ vái thần linh, tổ tiên rồi cầm dao nhọn làm động tác chém dữ (man tính lễ nghi) vào cổ con trâu dùng tế lễ, miệng thì thầm như câu thần chú (thực ra nhiều người cho rằng các ông chỉ nói lời kính báo với thần linh, tổ tiên: trâu tế thần đã sẵn, dân bản , dân mường đã thịt trâu dâng lên các vị thần rồi đây nhé, mời các vị về mà lấy). Sau đó, các ông lui ra,dành chỗ cho các thanh niên khỏe mạnh vào chém trâu và thịt trâu.

Trong ngày hội, người ta làm nhiều mâm cỗ (mỗi mâm tượng trung cho một bản lớn.Ngày xưa có tạo bản đứng đầu, các bản nhỏ không được tượng trưng bằng mâm cỗ) đặt cạnh nguồn nước thiêng của Mường.Đặc biệt, mâm cỗ của ông nha đặt ở giữa, cúng tổ tiên (mâm cúng chính thức) phải đầy đủ các bộ phận của con trâu hién tế (đầu, đùi, thân,móng, đuôi..) cùng tất cả bộ phận của một con lợn.

Những mâm còn lại của các bản , ngoài thịt trâu còn có cơm , rượu, gà vịt đặt ở 2 bên mâm cúng chính dành cho các vị thần khác. Khi buổi lễ bắt đầu,mo mường quỳ cúng các mâm cỗ, phía sau là a nha, tạo bản, dân mường quỳ lễ. Những bài cúng được thầy mo đọc , thời tổ tiên, các vị thần, chủ ngồn nước, thổ công thổ địa…về nhận lễ vật , cúng cỗ, vui vẻ với cộng đồng làng bản .Đông thời cầu mong tổ tiên thần linh ban phúc và mọi điều tốt đẹp cho bản mường.Trong lúc đó mo mường bắt đầu ném hai quả trứng (một đỏ ,một trắng) và một nắm cớm nhỏ xuống nguồn nước.

Cuộc lễ kết thúc, mọi người bắt đầy vào cuộc ăn chơi. Các ông mo mường, a nha, tọa bản…làm phép ở mâm cỗ chính rồi đi từng mâm.Ở mỗi mâm các ông ăn một miếng, uống một hớp rượu. Kể đỏ, cả bản mường vui vẻ ăn hết các mâm cỗ, không được bỏ thừa hay đem về. Mỗi bãi cho vui chơi được chuẩn bị sạch sẽ,dọn dẹp.Mọi hoạt động hội hè, trò chơ, văn nghệ thể thao…đều được diễn ra nơi đây. Trời trở bóng về chiều, trong tiếng trống, tiếng chiêng dìu dặt lúc khoan lúc nhặt thúc dục, dân làng tổ chức xòe vòng, xòe đôi, xòe đơn thật hào hứng, cả già trẻ đều tham gia. Bên mâm rượu tập thể, những nam thanh nữ tú hát giỏi múa hay, biết nhiều, nhanh nhẹn trong ứng đối vừa ăn uống, chọc ghẹo, vừa hát đối đáp giao duyên. Họ hát giới thiệu, khen ngợi nhau, bày tỏ chí hướng, tỏ lòng với nhau… trong men rượu, men tình…

Bên cạnh đó, dăm bảy đôi nam nữ (thường là những đôi đã ngầm kết nhau, tổ chức múa sạp, thi bắn nỏ, bắn súng hỏa mai. Nhiều nơi còn có tục đi săn tập thể vào ngày kết thúc lễ hội. Dưới sự chỉ huy của một thợ săn giỏi nhất mường, được dân bản bầu lên, mọi người lao mình vào cuộc săn một cách hào hứng. Thú rừng săn được sẽ chia đều cho mọi người cũng như lũ chó tham gia cuộc săn…

Cứ như thế cuộc vui kéo dài trong hai, ba ngày. Sau đó, bản nào về bản ấy. Bản nào giàu có, nhiều khả năng vật chất thì mời mo mường, a nha về bản mình, tiếp tục mổ lợn, giết gà tiệc tùng vui vẻ, hoặc tổ chức cầu an cho bản (xên bản).

Có thể nói, lễ hội cầu an vùa đặc sắc lại thể hiện tín ngưỡng đồng bào người dân nơi đây mong muốn một năm mua thuận gió hòa, cũng là biểu hiện cho tinh thần đoàn kết của bản mường, một nguồn vui không thể thiếu của cư dân ít người nơi rẻo cao Tây Bắc xa xôi, mỗi khi mùa hoa ban trắng nở. Không chỉ thế,lễ hội còn là nơi để mọi người gặp gỡ, giao lưu , trao đổi tình cảm.

Lễ Hội Hoa Ban Của Dân Tộc Thái

Hoa Ban là đặc trưng của vùng Tây Bắc, vào mỗi dịp tháng 2 đến, người dân lại nô nức tham dự lễ hội. Thời điểm này,thời tiết bắt đầu nắng ấm sau những cơn mưa xuân,khi hoa đào đã phai, hoa Ban bắt đầu nở trắng cả núi rừng Tây Bắc, hứa hẹn một mùa màng bội thu trên các nương rẫy và trên các khu vườn. Lê hội Hoa Ban (hay còn gọi là lễ hội Sên bản, Sên mường) là lễ hội cầu mưa, cầu phúc cho bản, mường của đồng bào dân tộc Thái.

Hằng năm, lễ hội được tổ chức bào mùng 5 tháng 2 âm lịch Lê hội Hoa Ban (hay còn gọi là lễ hội Sên bản, Sên mường) là lễ hội cầu mưa, cầu phúc cho bản, mường của đồng bào dân tộc Thái.

Từ sáng tinh mơ của ngày hội,trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng âm vang khắp núi rừng. Những bếp nhà sàn bập bùng lửa đỏ: người đồ xôi, kẻ luộc gà, thái măng,có nhà mổ lợn bày cỗ. Rượu cần được chuẩn bị từng vò lớn, vò nhỏ được bê ra chuẩn bị đãi khách. Những chàng trai, cô gái áo quần, khăn váy sang trọng, đẹp đẽ nhất rủ nhau đến những cánh rừng có nhiều hoa ban nở. Họ chọn những cành hoa đẹp nhất, tinh khôi và trắng muốt để tặng người yêu và biếu bố mẹ.Nếu như lễ hội Sên bản (2 năm/ lần) chỉ diễn ra trong phạm vi của bản, mục đích là “cầu thần phù hộ” và cúng “rửa lá, xua đuổi thần trùng”, ít tổ chức các trò vui, thì lễ hội Sên Mường (3 năm/ lần) lại được tổ chức rất to, thu hút nhiều người tài giỏi của toàn mường tham gia.

Lễ hội Sên mường diễn ra trong ba ngày. Phần lễ tưng bừng, trang nghiêm, thành kính với đám rước và lễ cúng tế trời đất, các thế lực siêu nhiên. Phần hội chiếm phần lớn thời gian với các cuộc thi bắn súng hoả mai, cung nỏ, ném còn, chọi gà,… Đặc biệt, trong tiếng trống tiếng chiêng tưng bừng của ngày hội, vòng người múa xoè hầu như diễn ra liên tục, tưởng như không ngừng nghỉ.

Đối với nam, nữ thanh niên trong mường, đêm cuối hội là đêm vui nhất. Giữa khung cảnh thơ mộng của núi rừng, các cuộc thi hát giao duyên hoà cùng tiếng khèn, tiếng sáo kéo dài cho đến tận khuya. Từ cuộc vui này, nhiều mối tình chớm nở và biết bao đôi trai gái nên vợ – chồng. Vì thế, đêm cuối cũng là đêm để lại nhiều kỷ niệm nhất.

Lễ Hội Chọi Trâu Phù Yên

Hằng năm, cứ đến ngày 15-16/2, huyện Phù Yên (Sơn La) lại tổ chức lễ hội chọi trâu tại chân Đồi Voi, bản Nà Xá, xã Quang Huy, huyện Phù Yên, thu hút đông đảo nhân dân các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận đến xem và cổ vũ. Trong ngày đầu tiên, 28 chú trâu đến từ các tỉnh có nguồn gốc trâu chọi nổi tiếng như Hải Phòng,Yên Bái, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang… được chia làm 14 cặp thi đấu vòng loại trực tiếp để chọn ra những chú trâu xuất sắc nhất vào vòng chung kết.

Lễ hội diễn ra sôi nổi với nhiều trận đấu hay, nhiều đòn hiểm đánh dập, đánh áp đảo, hạ nốc ao đối phương của các cặp trâu từ vòng loại đến trận chung kết, tạo sự bất ngờ, ấn tượng cho người xem. Cuộc đua giữa những lực sĩ trâu diện ra vô cùng gay cấn, náo nhiệt, thôi thúc ý chí người xem. Sau hai ngày thi đấu, Ban tổ chức lễ hội sẽ trao giải cho “ông” trâu hùng mạnh nhất.

Lễ hội không chỉ là cuộc đấu giữa những ” con trâu là đầu cơ nghiệp mà còn là cơ hội để mọi người gần xa gặp gỡ, giao lưu của nhân dân các dân tộc, thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đồng thời khuyến khích phong trào chăn nuôi đại gia súc, xây dựng huyện vùng cao Phù Yên ngày càng đổi mới và giàu đẹp.

Lễ Hội Đua Thuyền Quỳnh Nhai

Du lịch về với tỉnh Sơn La, du khách còn được tham gia một lễ hội hết sức hấp dẫn được diễn ra hằng năm: lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai đã trở thành nét đẹp truyền thống của đồng bào vào mỗi dịp tết đến xuân về. Lễ hội đua thuyền truyền thống ở huyện Quỳnh Nhai luôn được đông đảo người dân hào hứng tham gia thi đấu và du khách đến xem cổ vũ.

Lễ hội đua thuyền truyền thống là sự khởi đầu vào những ngày đầu xuân và là nét đẹp văn hóa truyền thống từ bao đời nay của người dân ở vùng ven sông Đà của huyện Quỳnh Nhai. Năm nào cùng thế, đến hẹn lại lên, vào ngày Mùng 10 tháng Giêng hàng năm, người dân Quỳnh Nhai lại tổ chức lễ hội đua thuyền với mục đích khôi phục, duy trì nét đẹp và bản sắc văn hóa truyền thống, tạo bầu không khí thi đua sôi nổi, đoàn kết dân tộc, tạo ra nét văn hóa mới của Quỳnh Nhai.

Trong dự án xây dựng thủy điện Sơn La, Quỳnh Nhai là huyện trọng điểm phải di dời số lượng dân lớn nhất với hơn 45.000 người (8.500 hộ dân). Mọi người dâ sống tại địa bàn huyện sẽ di dời sang vùng đất mới tại Phiêng Lanh (Mường Giàng). Vì vậy, việc tổ chức lễ hội đua thuyền tại đây cũng là hoạt động nhằm giữ gìn và phát triển nét văn hóa truyền thống của đồng bào, đồng thời tôn vinh các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc.

Tham gia giải đua thuyền năm nay có 16 đội đua với trên 200 vận động viên đến từ các xã ven sông Đà của huyện Quỳnh Nhai gồm: Pha Khinh, Chiềng Ơn,Cà Nàng, Mường Chiên, Pá Ma, Chiềng Bằng,Chiềng Khay,Mường Giàng, Mường Sại, và Mường Giôn. Bên cạnh giải đua thuyền, lễ hội còn diễn ra các hoạt động thể thao dân tộc như: ném còn,kéo co, bắn nỏ, chọi gà…

Lễ hội mang lạ sự đoàn kết, tinh thần thể dục thể thao cũng như bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cao đẹp của dân tộc, giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tinh thần tương thân tương ái, cùng đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thách thức để vươn lên trong cuộc sống.

Lễ Hội Mợi Dân Tộc Mường

Tại huyện Phù yên, người Mường có một lễ hội hấp dẫn được tổ chức vào dịp đầu xuân :Lễ hội Mợi. Khi mọi việc đồng áng đã kết thúc (khoảng mồng 5 tết), bản mường lại tổ chức lễ hội Mợi với ý nghĩa cầu cho mọi người khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản mường no ấm, đoàn kết vượt qua khó khăn, giúp nhau xây dựng cuộc sống ngày một tốt hơn.

Lễ hội Mợi là dịp để người dân được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, làm giàu chính đáng, nuôi dạy con cái trưởng thành và động viên nhau xây dựng bản mường ngày một tốt hơn. Các con nuôi cám ơn thầy Mợi đã chữa bệnh cứu người mang lại hạnh phúc cho mọi nhà bằng những cây thuốc nam gia truyền.

Lễ hội Mợi của người Mường Lai Châu mang giá trị nhân văn và văn hóa rất lớn Trong lễ hội Mợi gồm 2 phần: phần Lễ và phần hội được tỏ chức đan xen nhau. Phần lễ do thầy Mợi và các con hầu đảm nhiệm. Phần hội có sự hướng dẫn của thầy Mợi và sự tham gia của các con nuôi, bà con dân bản. Từ sáng sớm, thầy Mợi và các con hầu đã chuẩn bị các mâm lễ cúng. Vào lễ, thầy Mợi dùng lời hát đang, hát ví truyền thống của người Mường mời tổ tiên Mợi từ trên trời xuống trần gian, sau đó mời tổ tiên bên nội, tổ tiên bên ngoại, thần thổ địa, thần sông, thần núi cùng với tổ mợi về hưởng lễ, hương hoa, phù hộ cho con cháu, bản mường khỏe mạnh, làm ăn phát đạt. Sau khi cúng xong Tổ Mợi, các con nuôi mang các mâm lễ đến để dâng lên tạ ơn thầy Mợi, thầy Mợi tiếp tục làm lễ cầu cho các con nuôi của mình khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, ăn nên làm ra. Cúng mời tổ mợi và cầu phúc cho các con nuôi xong, thầy Mợi và các con hầu chuyển sang múa mợi. Các điệu múa được thể hiện trong lễ hội Mợi bao gồm: Múa xòe, múa khăn, múa trầu, múa kiếm, múa trồng bông dệt vải …Các điệu múa này vừa thể hiện tập quán truyền thống, vừa thể hiện các lễ nghi nông nghiệp. Các con hầu dỗ các ống tre xuống và gõ vào nhau, thổi khèn bè tạo nền nhạc rộn ràng cho các điệu múa. Vừa múa, bà Mợi vừa đi vòng quanh các con nuôi và bà con dân bản, bà dùng khăn quàng vào cổ mọi người để mời bà con dân bản vào cùng múa với thầy mợi và các con hầu. Điệu múa Mợi của người Mường vừa uyển chuyển, nhịp nhàng, vừa mạnh mẽ, say sưa. Càng về trưa thì số lượng người múa càng đông, tiếng nhạc càng rộn ràng. Sau thời gian nghỉ ăn trưa, buổi chiều các điệu múa lại được tiếp tục. Bên cạnh điệu múa là các trò chơi được diễn ra:đánh chó, đánh chuyền, đánh quay, nhảy lò cò, bói hoa, ném còn, kéo co, chơi bi, đánh quay, nhảy dây, chơi ô ăn quan, đánh yến…Các trò chơi dân gian diễn ra hào hứng, vui vẻ, thu hút được mọi lứa tuổi cùng tham dự.

Sau một ngày, lễ hội kết thúc bằng điệu múa trầu tiễn tổ tiên thầy Mợi về trời. Điệu múa phải thể hiện thật dẻo, thật khéo để mong đến ngày nay sang năm còn mời tổ mợi xuống trần gian dạy con cháu tập múa, làm nương, làm ruộng. Sau đó, thầy Mợi tổ chức một bữa cơm đoàn kết mời các con hầu, các con nuôi và bà con dân bản.

Mặc dù có quy mô nhỏ nhưng giá trị nhân văn và tính giáo dục của lễ hội rất lớn.Không chỉ bảo tồn giá trị văn hóa, lễ hội là một phần của đời sống tinh thần người Mường, là nét văn đáng tự hào làm phong phú, đa dạng thêm những hình thái du lịch Sơn La.

Lễ Hội Xen Pang Ả Của Dân Tộc Kháng

Dân tộc Kháng là một trong những cư dân thiểu số cư trú lâu đời ở miền Tây Bắc Việt Nam. Hoạt động kinh tế chính của đồng bào là làm nương rẫy, trồng lúa kết hợp với ngô khoai. Ở một số vùng sống ven sông, đồng bào rất giỏi làm thuyền độc mộc. Đan lát là một nghề phụ khá nổi tiếng của đồng bào Kháng, họ lấy mây tre trên rừng đan các loại gia cụ như hòm, mâm, ghế ngồi, gùi, giỏ rất đẹp và bền.

Đến nay, đồng bào Kháng vẫn còn duy trì được một số lễ nghi nông nghiệp như lễ Xíp Xí (rằm tháng 7) lễ mừng cơm mới. Tuy nhiên lớn nhất vẫn là Lễ hội Xen Pang ả, do Pa ả tức thầy cúng tổ chức. Từ trước tới nay,trong các bản của đồng bào dân tộc Kháng thường có một Pa ả chuyên làm việc cúng lễ cho dân bản. Pa ả là người thông minh, thuộc nhiều bài cúng và biết cách chữa bệnh thông thường, biết một số ảo thuật và biết nhiều điều mà người khác không biết. Có thể gọi họ là những trí thức dân gian, họ rất có uy tín, được dân bản tin và làm theo.

Lễ hội Xen Pang Ả được tổ chức với quy mô rộng lớn, gồm nhiều bản và cứ 2 đến 3 năm dược tổ chức 1 lând vào khoảng từ tháng 10 đến tháng 12 .Lễ hội được tổ chức với mục đích mời các “ma nhà”, “ma bản”, “ma trời” hưởng lễ vật và những người được Pa Ả chữa cho khỏi bệnh (được coi là con nuôi) đến dâng lễ, tạ ơn, đồng thời để Pa Ả cầu chúc cho hồn vía các con nuôi lành mạnh, không hay ốm đau, làm ăn phát tài. Lễ hội Xen Pang Ả ngoài phần lễ cúng cầu xin, còn là nơi nhân dân diễn lại các công việc nương rẫy, thu hái lâm sản trong đời sống thường nhật, thông qua các trò diễn; chơi các trò chơi dân gian; hát đối đáp giao duyên; múa ống, múa khăn.Xen Pang Ả là ngày hội vô cùng ý nghĩa với đồng bào dâ tộc Kháng,là dịp để mội người tạ ơn các thế lực siêu nhiên, các đấng thần linh đã cho họ sức khỏe, giúp bản mường bình yên,no ấm.Đây cũng là dịp để đồng bào vui chơi thư giã sau những ngày lao động vất vả, chân lấm tay bùn.Đặc biệt, lễ hội còn là dịp để thành niên nam nữ gặp nhau, hò hẹn nên vợ thành chồng và cố kết tình cảm trong thôn bản.

Lễ Hội Gội Đầu Của Người Thái Trắng

Đây là lễ hội của đồng bào người Thái trắng ở các huyện Qùn Nhau, Phù Yên. Dịp lễ hội, du lịch Sơn La thêm phần hấp dẫn. Đến với những bản làng người Thái, cũng tham gia lễ hội gội đầu với bà con ở vùng Quỳnh Nhai, chiêm ngưỡng cầu Pá Uôn -cây cầu bắn qua hồ thủy điện Sơn La có trụ cao nhất Việt Nam.

Lễ hội gội đầu trước đây diễn ra vào chiều 30 Tết âm lịch. Bà con các bản đua nhau đánh trống, chiêng, rồi hò reo đón năm mới. Lễ hội còn tổ chức múa xoè, làm nghi lễ cúng thần sông, thần suối, kèm theo là tổ chức các trò chơi dân gian. Từ già trẻ, gái trai, mọi thành viên trong bản đều tham gia lễ hội gội đầu.

Theo quan niệm của người Thái, gội đầu là để rửa trôi, tống tiễn những cái vất vả, bệnh tật, điều không may mắn của năm cũ theo dòng nước (sông, suối), đi mãi không lặp lại, đồng thời cầu cho khi bước vào năm mới con người có sức khoẻ, năm mới tốt lành, gặp điều hay, làm ăn phát đạt.

Lễ gội đầu của người Thái trắng gồm các hoạt động: Một thầy mo (hoặc ông trưởng họ) mời bà con dân bản xuống bến nước chuẩn bị gội đầu đón chào năm mới sắp đến. Ngay sau đó, các nam thanh nữ tú khiêng trống, chiêng vừa đi vừa khua rộn rã, thúc giục mọi người theo sau. Chậu nước gội đầu được bà con dân bản đun sôi để pha với nước gồm có những cánh hoa rừng,bồ kết, vỏ cây xo xe, hoa đào, hoa mận… Đàn ông thì khoác súng kíp, đeo túi thổ cẩm trong có đựng bảo bối gọi là “thung xanh”. “Bảo bối” thực ra chỉ là móng vuốt hổ, vuốt gấu, đoạn sừng tê giác, châu ngọc hoặc có thể chỉ là của hồi môn như nhẫn vàng, vòng bạc…

Lễ hội gội đầu là để tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc Thái của huyện Quỳnh Nhai, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, góp phần nâng cao trình độ dân trí. Lễ hội còn là dịp để quảng bá giới thiệu tiềm năng văn hóa, thể thao, du lịch và con người Quỳnh Nhai.

Lễ Hội Mah Grợ Người Khơ Mú

Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm dân tộc thiểu số ở tỉnh Sơn La, đồng bào cư trú chủ yếu ở các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai, Sông Mã. Người Khơ Mú có đời sống kinh tế còn nghèo nàn, chủ yếu sống ở vùng núi cao nhưng có nề văn hóa rất độc đáo.

Lễ hội Mah grợ cùng với điệu múa Vêr guông là một sản phẩm văn hóa tinh thần, tâm linh có nguồn gốc, cổ truyền từ xa xưa. Lễ hội được tổ chức vào tháng 8 tháng 9 âm lịch hàng năm có ý nghĩa tổng kết vụ mùa năm qua và khai mở một vụ mùa năm tới. Lễ hội Mah Grợ và múa Vêr guông thường được tổ chức tại nhà của người có kinh tế khá giả nhất bản, hoặc nhà ông trưởng bản. Lễ hội gồm 2 phần chính là phần lễ cúng của chủ nhà và phần hội múa của cộng đồng trong bản. Về phần lễ, ngay từ sáng sớm, bà chủ nhà đóng vai “Mẹ lúa” cùng cô con gái mặc váy áo, đội khăn piêu đẹp, đeo cái gùi, tay cầm con dao mài sắc rồi lên nương. Đến nương nhà mình, hai mẹ con đào lấy củ khoai sọ cuối cùng, cắt lấy phần lá khoai bỏ vào gùi và thêm mấy que củi khô rồi gùi về bản. Người Khơ Mú xưa quan niệm rằng củ khoai, quả bí đỏ mới là thóc lúa. Trên đường từ nương về bản, bà chủ nhà luôn miệng hú gọi hồn lúa (hmal ngọ) với ý nghĩa “Nương đã thu hoạch hết, đã đưa thóc lúa về bản, các hồn cũng về nhà thôi. Về để dự hội Mah Grợ”.

Về đến bản, trước khi lên cầu thang của nhà mình, “Mẹ lúa” lại hú hồn lúa lần nữa rồi mới mang củ khoai sọ vùi vào bếp tro lửa nướng chín. Khi khoai chín, chỉ mình “Mẹ lúa” được ăn. Tiếp theo, “Mẹ lúa” lấy thịt con sóc, con chuột rừng đã được sấy khô trên gác bếp xuống, rửa sạch rồi bỏ vào nồi nấu.

Trong lúc bà chủ nhà lên nương đem khoai về thì ông chủ nhà (ông chồng) lấy lạt tre đan ta leo (phên đan hình mắt cáo có diện tích bằng cái vung nồi) rồi cùng con rể (nếu có) mổ gà chuẩn bị mâm cúng tổ tiên. Khi mổ 3 con gà cho mâm cúng, con gà thứ nhất được cắt mỏ lấy tiết bôi vào hai đầu gối của từng thành viên trong nhà với ý nghĩa trong năm, mọi người phải trèo đèo, leo núi làm nương nên đầu gối yếu mềm, nay “sửa lại” cho đầu gối mạnh khỏe, cứng cáp.

Người chủ nhà tiếp tục cắt mỏ con gà sống thứ 2 rồi lấy tiết quệt vào bồ thóc, rổ khoai, khấn “Thóc năm nay tốt, sang năm khoai thóc được mùa tốt hơn”. Tiếp tục cắt mỏ con gà thứ 3 đem tiết xuống gầm sàn bôi lên đầu con trâu. Con trâu được phủ miếng vải thổ cẩm, vải trắng lên lưng, đôi sừng trâu được buộc hoa rừng.

Cúng tổ tiên xong, chủ nhà buộc phên ta leo lên chỗ bàn thờ với quan niệm đó là chỗ ở mới của “ma nhà” (tương tự tục thay bát hương bàn thờ tổ tiên trong dịp Tết Nguyên đán của người xuôi). Tiếp tục phần lễ, ông chủ nhà vê từng viên (4 viên) cơm nếp xôi ở bàn cúng vừa mang xuống, rồi đem dính vào tóc của từng đứa trẻ trong nhà với quan niệm hồn đứa trẻ ở trên đầu cũng được ăn cơm mới, không ốm đau, chóng lớn.

Sau bữa cơm nội gia của chủ nhà (không mời khách ăn cùng), bà chủ nhà và những người trong gia đình đem rổ khoai, bí đã đồ chín để ở giữa nhà. Lúc này, cuộc vui bôi khoai, bí chín vào áo của nhau mới bắt đầu. Cả chủ lẫn khách thi nhau nhặt từng miếng khoai, bí ăn một miếng, phần còn lại bôi lên áo ông, bà chủ nhà, rồi bôi vào khách. Ai bôi được nhiều người sẽ được hạnh phúc, gặp nhiều may mắn trong năm (ý nghĩa tương tự như hội té nước của dân tộc Lào, Thái). Sau cuộc bôi bí là cuộc uống rượu cần chum to, lần lượt các cụ ông đến lượt cụ bà, khách quý. Uống rượu cần hết lượt mới bước vào cuộc nhảy múa.Lúc này, bà chủ nhà cũng trổ tài khoe bông lúa nhà mình chắc hạt với các cụ bà đến dự lễ và cài những cánh hoa rừng lên búi tóc của họ.

Lễ Hội Dâng Hoa Măng Của Dân Tộc La Ha

Vào dịp đầu xuân năm mới, việc trên nương chưa nhiều, để con cháu, bà con bản dưới mường trên gặp nhau giao lưu văn hóa, văn nghệ, người La Ha tổ chức Lễ hội dâng hoa măng. Theo thông lệ, Lễ hội được tổ chức trước ngày rằm hàng tháng trong 3 tháng mùa xuân, khi việc trên nương chưa nhiều, khi cây măng đắng đội đất mọc lên, khi cây mạ rế trong rừng nở hoa vàng đỏ, để con cháu, bà con bản dưới mường trên gặp nhau giao lưu văn hóa, văn nghệ, trao đổi kinh nghiệm chữa trị bệnh. Lễ hội nhằm tỏ lòng cảm tạ, tri ân thầy lang có công vì sức khỏe cộng đồng, tổng kết khả năng cứu chữa bệnh tật của thầy lang, rồi truyền lại cách thờ cúng tổ tiên cho con cháu.

Theo phong tục của người La Ha, Lễ hội dâng hoa măng gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Vẫn tồn tại đến ngày nay, phần lễ là để cảm tạ trời đất, tổ tiên, sông núi luôn phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, phần hội thì sôi nổi, vui vẻ, tuy còn một số mặt hạn chế, nhưng vẫn thể hiện được những nét phong tục, văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt khác hẳn các dân tộc anh em khác trên địa bàn; Ôn lại truyền thống, trao đổi thông tin kinh nghiệm làm ăn, chữa bệnh để cùng nhau phát triển.

Lễ hội dâng hoa măng nhất thiết phải được tổ chức ở trong nhà, tại nhà của thầy lang (thầy mo). Thầy lang là người chủ trì chuẩn bị ngày hội về thủ tục. Lễ vật cúng thần linh cũng rất phong phú. Đó là các loại con vật sống, các loại hoa rừng trang trí và các dụng cụ cần thiết khác, tổ chức tại nhà thầy lang nhưng nhất thiết không được thiếu cây móc, cây chuối rừng (để dựng cây nêu cúng giữa nhà), gạo và trứng gà sống… Bắt đầu vào cúng mời các thần người phụ lễ thổi pí-sên (sáo cúng) để hòa quyện với lời hát cúng, cho lời hát mau đến với các vị thần che chở cho người La Ha như thần hổ – chúa sơn lâm, thắng mọi dã thú, bảo vệ cuộc sống cho dân bản. Sau khi cúng các vị thần linh sẽ cúng mời con nhím là thần đất, để nó không phá hại mùa màng; cúng con chim cu gáy – thần của các loài chim hay ăn lúa trên nương để bảo vệ lúa nương. Cuối cùng là cúng con ma cang cói để nó không quấy rầy sức khỏe nhân dân.

Cúng các thần xong, thầy lang và người phụ lễ biểu diễn các trò mà ông đã chữa khỏi cho bệnh nhân. Khi thì buộc cái bát ăn cơm vào cổ, giả làm người bị bướu cổ, khi làm người què chân, người ngớ ngẩn, lúc vào vai người đi coi nương vung cây sào, hú đuổi lũ chim, sóc… Cuối cùng là giả làm con khỉ bò quanh cây móc giữa nhà, vừa bò, vừa kêu chí chóe, mắt đảo nhìn rất nhanh, để tìm hoa, ngô, chuối… Khi màn độc diễn của thầy lang kết thúc, trai gái trong bản đứng sắp hàng ngang hai bên cây nêu vào màn múa tăng bu. Đạo cụ chỉ là 1 ống tre trổ xuống tấm ván theo nhịp “chát chát”, tay lúc vung ra sau, khi thì 2 tay cầm ống tre nghiêng sang bên trái, nghiêng sang bên phải, múa say sưa, phụ nữ múa mềm dẻo, khỏe khoắn, linh hoạt.

Sau tăng bu là các điệu múa cày bừa, cầu mưa, múa khăn, múa kiếm, múa trống. Cuối cùng là điệu múa “A sừng lừng”. một điệu múa độc đáo mang nét văn hóa phồn thực.

Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống quá nghèo thuở xưa, nạn hữu sinh vô dưỡng phổ biến, khiến người La Ha nghĩ ra phải thờ dương vật để hy vọng người La Ha con đàn cháu đống, mẹ tròn con vuông.

Lễ hội dâng hoa măng là sinh hoạt văn hóa cộng đồng lớn nhất hàng năm của dân tộc La Ha, bởi số lượng người tham gia lên tới hàng trăm người, quy mô không chỉ trong một xã, một bản mà có thể tới cả các xã, huyện khác. Họ đến đây để gặp nhau, giao lưu văn hóa, văn nghệ, trao đổi về tình hình bệnh tật và kinh nghiệm chữa trị. Đây là nét văn hóa truyền thống độc đáo, là di sản văn hóa phi vật thể cần được nghiên cứu, lưu giữ và giới thiệu rộng rãi trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Lễ hội dâng hoa măng của dân tộc La Ha thể hiện được những nét phong tục, văn hóa, tín ngưỡng độc đáo, đậm đà bản sắc. Không khí lễ hội lành mạnh, vui vẻ, là dịp gặp gỡ, giao lưu, ôn lại truyền thống, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, chữa bệnh… để cùng nhau phát triển.

Đến với Sơn La, những lễ hội vừa mang nét hấp dẫn độc đáo, thể thiện tín ngưỡng thờ cúng của đồng bào và lòng biết ơn với ông bà tổ tiên.Mỗi lễ hội là một sắc màu, một nét chấm phá trong bức tranh văn hóa dân tộc.Những lễ hội đó cần gìn giữ ,lưu truyền để con cháu muôn đời sau đều tự hào và ý thức về dân tộc.

Xem thêm: Có Nên Đi Tour Du Lịch Sapa hay không ?


Chưa có bình luận về Những Lễ Hội Đặc Sắc Của Bà Con Dân Tộc Sơn La