Khám Phá Bắc Giang Nơi Có Nhiều Lễ Hội Đặc Sắc Nhất Việt Nam

Tue, 12/09/2017 | 24 lượt xem

Đánh giá bài

Lễ Hội Chùa Vĩnh Nghiêm Bản Sắc Dân Tộc Việt

Bắc Giang, một trong những vùng đất cổ thuộc Kinh Bắc xưa, không chỉ nổi tiếng với những ngôi làng cổ, những phong tục tập quán truyền thống người Kinh Bắc mà còn là vùng văn hóa có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và lễ hội truyền thống. Chùa Vĩnh Nghiêm được đánh giá là một trong những ngôi chùa cổ đẹp nhất đất Kinh Bắc, được Bộ VHTT xếp hạng di tích cấp quốc gia từ năm 1964. Tháng 5-2012, kho mộc bản lưu trữ tại chùa được tổ chức UNESCO thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương ghi danh di sản tư liệu trong chương trình Ký ức thế giới. Nhắc đến chùa Vĩnh Nghiêm, dân gian có câu: “Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm/ Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”.

Xem thêm: Tour Du Lịch Đông Tây Bắc Bộ

Chùa Vĩnh Nghiêm là một công trình nghệ thuật có giá trị, với kiến trúc và các tác phẩm chạm khắc trang trí phong phú và đặc sắc. Nơi đây thờ ba vị sư tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được người dân tôn kính, ngưỡng vọng. Hàng năm, nhân dân tổ chức lễ hội tại khu di tích chùa Vĩnh Nghiêm, với quy mô to lớn, cùng các nghi thức, hình thức thực hành nghi lễ mô phỏng theo lễ hội của Phật giáo. Không gian rộng lớn của khu di tích chùa, đền tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức các trò chơi dân gian mang tính cộng đồng như: đấu vật, cờ tướng, chọi gà, kéo co và các hoạt động văn hóa nghệ thuật như: hát chèo, quan họ… Người dân đến với lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm không chỉ thể hiện lòng thành tâm đối với Phật, cầu mong mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống mà còn được tham gia, thưởng thức các trò chơi, hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Đồng thời, du lịch Bắc Giang về chùa Vĩnh Nghiêm cũng là dịp để mọi người cùng được ôn lại truyền thống văn hóa của quê hương mình, thưởng thức vẻ đẹp của những công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc cùng với các hoành phi, câu đối, bia ký trong chùa. Qua đó càng làm tăng thêm tình yêu quê hương đất nước và giáo dục cho mọi người thấy được những giá trị văn hóa truyền thống để từ đó có ý thức bảo vệ, gìn giữ những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của quê hương.

Thể hiện lòng biết ơn các vị sư tổ, vào các ngày giỗ, người dân tổ chức cúng tế trang trọng. Dần dần ngày giỗ của các vị tổ trở thành ngày hội chùa, không chỉ của các sư tăng, của người dân Đức La mà còn là lễ hội lớn của người dân trong vùng và khách thập phương. Hàng năm ở chùa La có những ngày giỗ quan trọng: ngày giỗ Đức tổ đệ nhất Trần Nhân Tông: mùng 1-11; ngày giỗ Đức tổ đệ nhị Pháp Loa: mùng 1-3; Ngày giỗ Đức tổ đệ tam Huyền Quang: ngày 23 tháng giêng; Ngày giỗ Hòa thượng Thích Thanh Hanh: mùng 8 tháng chạp; Ngày giỗ Hòa thượng Trần Như: ngày 14-2. Trong đó, ngày giỗ Đức tổ đệ nhất được tổ chức long trọng nhất. Sau này, cả ba vị tổ đều được tổ chức chung vào ngày giỗ Trần Nhân Tông, từ 30-10 đến hết 1-11 âm lịch. Ngoài ý nghĩa ngày giỗ tổ, việc tổ chức hội vào đầu tháng 11 âm lịch còn mang ý nghĩa thiên văn: tháng 11 là tháng Tý, tháng bắt đầu của một năm theo lịch thập nhị địa chi (12 con giáp). Từ chiều tối 29-10, quan viên hàng xã đã phải chuẩn bị xong lễ giỗ. Các quan viên tập hợp lại, rước cỗ lên chùa, tế lễ vào buổi tối. Sáng hôm sau hội mới được tổ chức nhộn nhịp cho đến hết ngày 1-11. Mỗi làng tổ chức rước một kiệu lên chùa. Cỗ rước là cờ quạt, chấp kích, bát bửu được rước đi trước, tiếp theo là các loại đồ thờ, bánh, hoa quả đặt trên kiệu rước đi sau, trong không khí long trọng của nhạc điệu, chiêng trống. Thanh niên trẻ, khỏe, mẫu mực của làng được chọn tham gia đám rước. Trong các ngày hội, ngoài những trò chơi có tính chất văn hóa bổ ích như đánh đu, cướp cờ, các cụ còn tổ chức diễn các tích trò nhà Phật. Sau này, do điều kiện sản xuất trong tháng 10, tháng 11 bận rộn, ngày hội chính được chuyển sang 14-2 âm lịch, chính là ngày giỗ của vị tổ hàng thứ hai là Trần Như. Các sư gọi là ngày giỗ tổ chùa, do vậy nên tính chất hội ít mà tính chất lễ giỗ nhiều hơn.

Xưa kia, việc cai quản lễ hội do ba làng La: La Thượng, La Trung, La Hạ thuộc xã Đức La cũ kết hợp tổ chức. Trong ngày mở hội, mỗi làng tổ chức rước một kiệu lên chùa. Người điều hành toàn bộ cuộc rước của ba làng là chánh tổng cầm chịch. Thành phần tham gia vác cờ, khiêng kiệu trong cuộc rước là các trai thanh, gái lịch do các làng tuyển chọn. Những người này đều mặc áo màu đỏ, đầu đội nón chóp, chân quấn xà cạp, thắt lưng màu vàng bỏ múi cạnh sườn, đầu chít khăn vàng bỏ múi. Việc tế tổ do các sư đảm nhiệm, các cụ dân thôn tụng kinh niệm Phật dưới sự điều hành của sư trụ trì. Hiện nay, lễ hội Vĩnh Nghiêm do các tăng sư trụ trì ở chùa phối hợp chặt chẽ với UBND xã Trí Yên đứng ra tổ chức. Trước khi diễn ra lễ hội khoảng một tháng, các sư trụ trì ở chùa và chính quyền UBND xã họp bàn, thành lập ra một ban tổ chức để lo liệu. Mỗi làng bầu một tiểu ban để lo công việc nhà chùa phân công, trưởng thôn làm trưởng ban. Người chủ tế là người quan trọng nhất, đại diện cho dân làng trong xã khi làm lễ, nên tiêu chuẩn lựa chọn được đặt ra rất khắt khe. Thông thường phải là người đàn ông cao tuổi, có đức độ, gia đình hòa thuận, có cả con trai, con gái, cháu dâu rể, nội ngoại và phải biết chữ. Đặc biệt, không mang đại tang, thọ tang, phải vô nghị thanh quyết, không có bụi bẩn mới được tham gia vào ban lễ nghi… Nếu ai đó mắc phải những điều kỵ trên, họ sẽ tự rút lui để giữ đúng đạo và không mắc tội với phật, thánh. Những năm gần đây phần tế lễ ở chùa do các cụ thôn La Trung đảm nhiệm.

Tiến Trình Lễ Hội Chùa Vĩnh Nghiêm

Ngày 12, không khí lễ hội đã tưng bừng nhộn nhịp trong cả vùng Đức La cũ. Băng cờ, biểu ngữ được nhân dân của ba làng La treo, dán tại các nẻo đường. Khách thập phương từng đoàn, từng tốp nô nức kéo nhau từ các ngả đường về chùa.

Phần lễ

Sáng ngày 12-2, đúng 7 giờ các đám rước của các làng được khởi hành từ trung tâm làng tiến về chùa. Đoàn rước của La Thượng, đi đầu là đội múa kỳ lân, sau là cờ tổ quốc do một người trung tuổi mặc quần hồng áo vàng, khăn vàng thắt dây đỏ cầm. Tiếp đó, đội nhạc mặc áo màu nâu đỏ viền vàng, quần trắng, chân quấn xà cạp đỏ, 2 người khiêng trống lớn, 2 trống con, nhị và chập cheng. Sau đội nhạc, 12 người mặc áo dài vàng, quần hồng, khăn đỏ bỏ múi bên tai cầm cờ hội, tiếp sau là đội chấp kích gồm 8 người trong đó 2 người mang gươm, 6 người mang bát bửu, đều mặc áo nâu đỏ, quần trắng, chân quấn xà cạp đỏ, đầu đội nón chóp sơn đỏ. Đội rước kiệu đi sau, gồm 8 người khiêng, 2 người cầm tàn, lọng đi hai bên. Họ đều mặc áo màu hồng, quần trắng, thắt khăn vàng dây đỏ. Trên kiệu để cỗ của làng, cỗ gồm chuối, oản được bày thành năm tầng. Các cụ lão ông, lão bà vừa đi vừa tụng kinh niệm phật, sau cùng là những người đi quy và nhân dân thôn La Thượng.

Đoàn rước của La Trung, đi đầu là biểu tượng rùa vàng, tiếp sau là cờ tổ quốc. Người vác cờ mặc quần xanh, áo đỏ thắt khăn dây đỏ bỏ múi bên tai. Sau đến đoàn nhạc gồm 2 người khiêng trống lớn, 2 người mang trống con, 2 người khiêng chiêng đều mặc áo đỏ quần trắng chân quấn xà cạp đỏ, đội nón chóp sơn đỏ. Sau đội nhạc là 12 người vác cờ hội, mặc áo xanh, quần đỏ thắt lưng bỏ múi cạnh sườn, đầu thắt khăn đỏ bỏ múi. Tiếp đến là 10 người mang bát bửu, tiếp đến là kiệu. Kiệu của thôn La Trung gồm 16 người khiêng cùng 2 người mang tàn, lọng đều mặc quần xanh, áo đỏ, khăn đỏ, chân quấn xà cạp đỏ, thắt lưng màu vàng. Cỗ đặt trên kiệu của làng là 35 cặp bánh dày to. Sau kiệu là đội tế của làng mặc áo thụng vàng, đỏ, quần trắng, đầu đội khăn vàng. Sau cùng là các cụ lão ông, lão bà và dân làng. Đoàn rước của La Hạ, đi đầu là cờ tổ quốc, tiếp là 12 lá cờ hội, họ mặc áo nâu đỏ quần trắng, chân quấn xà cạp đỏ. Đội chấp kích gồm 9 thanh niên mặc áo nâu đỏ, quần vàng, đội nón chóp sơn đỏ, chân mang xà cạp. Sau đội chấp kích là một người vác lá cờ hội rất lớn và đội nhạc gồm 5 người. Tiếp đến là kiệu do 14 thanh nữ khiêng và 2 người mang tàn, lọng che cho kiệu. Cỗ rước trên kiệu là 21kg chè lam mua từ thành phố Bắc Giang. Đi sau kiệu là các cụ lão ông, lão bà và dân làng. Khi ba đám rước về đến trước cửa chùa thì dừng lại để ổn định trật tự của đội hình. Theo lệ cổ, phần lễ ở chùa Vĩnh Nghiêm có ba lễ: lễ Phật ở Tam Bảo do đoàn La Thượng đảm nhiệm; lễ Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do đoàn La Trung đảm nhiệm; lễ các tổ sau ba tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do đoàn La Hạ đảm nhiệm.

Đoàn rước của La Thượng được phép vào trong khu vực tiền đường, cờ, lọng và chấp kích tản ra hai bên. Cỗ đặt trên kiệu được hạ xuống, đặt trên ban thờ tam bảo. Dưới sự điều hành của sư trụ trì, các cụ trong làng La Thượng tổ chức lễ Phật và dâng lễ. Đoàn rước của La Thượng dâng lễ xong thì đoàn rước của La Trung mới được phép tiếp tục hành rước. Đoàn rước của La Trung được rước vào nhà tổ đệ nhất. Cỗ cúng tổ của dân thôn La Trung gồm 34 kg bánh dày, tế tổ xong để lại nhà chùa một nửa, còn lại đem về chia đều cho các cụ trong thôn gọi là lộc chùa. Thôn La Trung cúng tổ xong thì tới lượt La Hạ. Cỗ cúng tổ của La Hạ được rước vào nhà tổ đệ nhị, gồm chè lam do toàn dân trong thôn đóng góp. Cúng tổ xong, cỗ này để lại cho nhà chùa một phần, còn lại mọi người trong thôn cùng hưởng lộc.

Sau khi cả ba làng dâng lễ cúng bái, buổi tối nhà chùa lập đàn giảng quy tại chùa Hộ, thỉnh chuông hoằng dương Phật pháp vào buổi sáng, buổi tối. Trong dịp lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm, Thượng tọa Thích Thiện Văn trụ trì chùa sẽ phát áo thượng thọ cho các cụ từ 80 tuổi trở lên. Đây là nét đẹp tiêu biểu đã đi vào nề nếp từ nhiều năm nay của sư trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm. Vào các ngày lễ của địa phương cũng như các ngày giỗ tổ, hội chùa các cụ trong xã sẽ mặc y phục truyền thống, các cụ từ 80 tuổi trở lên mặc quần áo màu đỏ, dưới 80 tuổi quần áo màu nâu.

Suốt ba ngày hội, con nhang đệ tử từ các nơi nô nức về chùa Vĩnh Nghiêm tế tổ. Toàn dân thôn, xã bản tự và khách thập phương thắp hương niệm Phật tại chùa và cúng tổ ở nhà tổ đệ nhất, nhà tổ đệ nhị để Phật tổ hoằng hóa đạo pháp cho chúng sinh. Phần rước và tế lễ diễn ra đến khoảng 9 giờ sáng, tiếp đó khách thập phương được vào thắp hương cầu nguyện…

Phần hội

Trong lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm, phần hội gồm các hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ, trò chơi dân gian, diễn ra trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Các hình thức sinh hoạt văn hóa này rất đa dạng, phong phú, nhiều trò chơi mang tính cộng đồng, gắn kết mọi người với nhau, tạo không khí lễ hội tưng bừng, nhộn nhịp.

Hoạt động ca hát trong ngày hội là một nét chung trong các lễ hội, người ta sử dụng lời ca tiếng hát để gắn kết, giao tiếp với nhau. Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vào những ngày hội, các thôn ở Đức La tổ chức thi hát với nhau, thanh niên các thôn thường hát những bài hát truyền thống ca ngợi quê hương đất nước, những người trung tuổi lại thích hát những làn điệu dân ca quan họ thể hiện tập quán đặc sắc của vùng đất Kinh Bắc. Một trong những hình thức sinh hoạt độc đáo ở lễ hội chùa Vĩnh Nghiên là kể hạnh – là hình thức đọc và kể lại nội dung viết trong tập Thiền tông bản hạnh, nội dung nói về thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Giúp cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao to lớn của tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương đất nước. Những câu văn kể hạnh thường là những câu thơ lục bát liên quan đến tích nhà phật. Chèo đò kể hạnh được bắt đầu từ thời Trần, với văn kể hạnh về Phật giáo Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông khởi xướng.

Các trò chơi dân gian

Sau những tháng ngày lao động vất vả, nhu cầu vui chơi giải trí trong lễ hội của người dân là nhu cầu không thể thiếu. Trò chơi thường gắn với việc thi tài để tìm ra người thắng cuộc, động viên, khuyến khích người chơi hăng hái, nhiệt tình hơn. Nổi bật với các trò chơi như :Đấu vật, bịt mắt đập niêu, chọi gà, chơi cờ, Kéo co…thu hút nhiều người tham gia. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, đây là phần vui nhất, sôi nổi nhất của lễ hội. Có thể nói lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm là niềm tự hào của người dân nơi đây, đem đến cho nhân dân thời gian vui chơi giải trí sau những tháng ngày lao động vất vả. Lễ hội cũng là dịp gắn kết cộng đồng trong các thôn của Đức La nói riêng và khách thập phương nói chung, họ bỏ qua những sinh hoạt đời sống thường ngày đến với sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo chung của cộng đồng. Lễ hội còn là dịp giúp cho những người xa quê có cơ hội trở về với cội nguồn. Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm là lễ hội lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc dân gian ở Bắc Giang, cần được bảo tồn, phát huy, để nó sống mãi với thời gian.

Tham Dự Lễ Hội Chùa Bổ Đà – Ngôi Chùa Linh Thiêng Bậc Nhất Phía Bắc

Bổ Đà là một trong những ngôi chùa có phong cảnh hữu tình đẹp bậc nhất Bắc Giang, con đường lên với chùa Bổ Đà du khách sẽ cảm nhận được sự thoát tục về với cõi phật yên bình. Không chỉ là điểm du lịch Bắc Giang, chùa Bổ Đà còn là nơi để người dân khắp nơi về hành lễ, kính cẩn thắp nén hương thơm lên bàn thờ phật.

Chùa Bổ Đà ở xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – danh lam cổ tự nổi tiếng của vùng Kinh Bắc xưa, đây cũng là nơi tu luyện và đào tạo tăng đồ của Thiền phái Lâm Tế và bảo lưu giá trị kiến trúc truyền thống độc đáo của người Việt. Chùa Bổ Đà tọa lạc trên vùng đất linh thiêng thuộc dãy Bổ Đà gắn liền với truyền thuyết người tiều phu đốn củi và Phật Bà Quan Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời. Chùa Bổ Đà tương truyền có từ thời Lý, được tu bổ, tôn tạo và mở rộng vào thời vua Lê Dụ Tông (1720- 1729), gồm các đơn nguyên kiến trúc chính: Chùa Tứ Ân, am Tam Đức, chùa Cao, vườn Tháp, ao Miếu và khu vườn chùa.

Hiện nay, chùa Bổ Đà còn là nơi bảo lưu hơn 40 pho tượng Phật trong đó phần lớn là tượng Phật cổ thời Lê (thế kỷ XVIII), Nguyễn (thế kỷ XIX) như bộ tượng Tam Thế Phật, tượng A Di Đà, tượng Thích Ca Niệm Sen, tòa Cửu Long, tượng Tam Châu…Chùa Bổ Đà là nơi tu hành của các tăng ni và đào tạo các tăng đồ theo Thiền phái Lâm Tế trong hơn 300 năm. Đặc biệt, tại chùa Bổ Đà đang bảo lưu 1.935 mộc bản kinh Phật và 18 bộ sách kinh chính. Lễ hội chùa Bổ Đà (còn gọi là Hội Chùa Bổ) được tổ chức từ ngày 16, 17, 18 tháng hai âm lịch hàng năm tại khu vực núi và chùa Bổ Đà thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên. Trong lễ hội thường diễn ra các hoạt động sau: giới thiệu về chùa Bổ Đà, lịch sử hình thành và xây dựng chùa Bổ Đà, các quy ước và điều lệ của nhà chùa.

Trong ba ngày lễ hội chùa Bổ Đà, ngoài các trò vui thường thấy ở vúng đồng bằng trung du Bắc Bộ, khách hành hương còn được thăm một vùng danh thắng với những truyền thuyết về một trung tâm Phật giáo lớn ở Bắc Giang. Mỗi người sẽ cảm nhận thấy vẻ đẹp non nước sơn thuỷ hữu tình đầy chất thơ của một vùng kinh Bắc. Thời gian diễn ra lễ hội là vào 3 ngày 16, 17, 18 tháng hai âm lịch trong tiết xuân ấm áp. Thời tiết mưa xuân đầu năm khiến nơi đây nhiều đi mờ trong mưa bụi nhưng ở vùng núi Bổ Đà tất cả các di tích đều mở cửa đền, cửa đình, cửa chùa để đón khách thập phương đến hội. Khắp nơi trong hai thôn Lát Thượng, Lát Hạ, trên núi, dưới làng đều tấp nập người về trẩy hội. Nào là bóng cờ bay phấp phới, nào là tiếng trống, tiếng phách nhộn nhịp khắp một vùng quê.

Chỉ vẻn vẹn trong 3 ngày hội, người dân thập phương ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ được ngắm toàn cảnh vùng danh thắng với những truyền thuyết về một trung tâm Phật giáo lớn ở Bắc Giang. Mỗi một hành khách sẽ cảm nhận được vẻ đẹp vùng núi với nét cổ kính nhưng vẫn đầy nét thanh tịnh trong chuyến tu tập tại chùa.

Cứ đến ngày trẩy hội là nhân dân trên khắp tỉnh thành cả nước đều quần là, áo lượt đến chùa để cùng tham gia vào các hoạt động tại chùa. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, nếu yêu thích quan họ các bạn hãy tham dự lễ hội Bổ Đà. Nổi tiếng nhất vẫn là các làn điệu quan họ, gặp gỡ giao duyên trong những trang phục truyền thống bắt mắt. Lời hát cất lên mượt mà, đằm thắm, thấm đượm tình đồng quê, non nước. Ngoài ra, ngày 8 tháng 4 Phật đản làm lễ dâng hương ở chùa, ngày 15 tháng 7 lễ tán hạ.

Lễ Hội Yên Thế Tôn Vinh Vị Anh Hùng Áo Vải Hoàng Hoa Thám

Hằng năm cứ đến ngày 16 tháng 3 dương lịch, nhân dân Yên Thế nói riêng và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang nói chung lại long trọng tổ chức Lễ hội Yên Thế.

Lễ hội Yên Thế tại thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang là lễ hội được tổ chức hằng năm để nhân dân nơi đây bày tỏ lòng tôn kính cũng như tưởng nhớ công ơn Hoàng Hoa Thám, vị thủ lĩnh tối cao, tài ba của phong trào nông dân Yên Thế. Tinh thần và khí phách của nghĩa quân Yên Thế trong chiến đấu chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trở thành biểu tượng chói ngời về lòng yêu nước, ý chí hiên ngang, bất khuất của người dân Bắc Giang…Lễ hội Yên Thế được tổ chức với nhiều nghi lễ trang nghiêm và long trọng. Sau tiếng trống, tiếng chiêng là màn dâng lễ vật, dâng rượu tiên tế tới Hoàng thiên anh linh và nghĩa quân anh dũng… lễ dâng hương báo công về những thành tựu nổi bật của huyện Yên Thế trong một năm qua và lễ phóng ngư tại hồ sinh thái có lịch sử từ hơn 100 năm trước.

Lễ hội Yên Thế được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 16 tháng 3 năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 100 năm cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Từ đó đến nay cứ đến ngày 16/3 dương lịch, lễ hội lại được tổ chức tại trung tâm thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế – đại bản doanh Phồn Xương năm xưa. Lễ hội Yên Thế diễn ra trong ba ngày (15, 16, 17 – 3), ngoài phần dâng hương, rước kiệu, múa kỳ lân còn có các hoạt động văn hóa, thể thao khác, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách xa gần. Đến với lễ hội, người dân còn được xem và được tham gia vào các trò chơi dân gian truyền thống như: Giải vô địch võ thuật cổ truyền tỉnh Bắc Giang, biểu diễn nghệ thuật múa rối nước, giải thi người mặc trang phục dân tộc đẹp, hội trại thanh thiếu niên và các trò chơi như thi nấu cơm, hát quan họ, bắn nỏ, bóng bàn, bóng chuyền. Theo một số bạn trẻ từng có kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, lễ hội Yên Thế là một trong những lễ hội đặc sắc và sôi động nhất.

Ngoài ra còn có hội thơ Hoàng Hoa Thám do nững người yêu thơ trong và ngoài tỉnh lập nên. Lễ hội Yên Thế trở thành một điểm nhấn của du lịch Bắc Giang. Tất cả các hoạt động trên nhằm tái hiện một cách sinh động truyền thống yêu nước của cha ông cùng những nét văn hóa bản sắc, mang đặc trưng vùng. Không chỉ là một hoạt động mang ý nghĩa tưởng nhớ vị anh hùng áo nâu Hoàng Hoa Thám mà đây còn là dịp để gìn giữ những tập tục, bản sắc văn hóa dân tộc.

Đặc Sắc Lễ Hội Truyền Thống Làng Thổ Hà

Làng Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là một trong ba trung tâm gốm sứ có tiếng của người Việt. Nơi đây nổi tiếng với sự cổ kính gắn liền với hình ảnh cây đa, giếng nước, mái đình. Dấu vết còn lại của làng là những mảng nhà, hàng rào… được xây bằng các phế phẩm gốm khiến làng mang dáng dấp của một phế đô gốm. Thổ Hà là một trong những điểm du lịch Bắc Giang thu hút du khách gần xa về tham quan.

Cũng như bao lễ hội khác, hội làng Thổ Hà mang đặc trưng của lễ hội vùng Kinh Bắc với những làn điệu quan họ quen thuộc được biểu diễn trên sông, sân đình. Lễ rước Thành hoàng làng cũng được tổ chức trang trọng, cầu kỳ, chỉ khoảng 300m nhưng lễ rước phải mất hai tiếng, đi cùng lễ rước là những màn múa, trống hội hết sức đặc sắc thu hút đông đảo người dân trong vùng. Lễ hội Thổ Hà là lễ hội nổi tiếng từ xa xưa, là một trong số những lễ hội giầu truyền thống nhất của tỉnh Bắc Giang; được tổ chức tại trung tâm làng, khu vực đình, đền, chùa và khu vực dân cư từ điếm xóm 1 đến điếm xóm 4. Lễ hội Thổ Hà bắt đầu từ ngày 19 đến 21/2 âm lịch, tuy nhiên hoạt động quan trọng nhất là lễ rước nhằm ngày 21 tháng Giêng.

Đoàn rước nhiều màu sắc với kép tuồng, phường bát âm, múa sinh tiền, ông tổng cờ, tổng kiếm… và hình ảnh ba vị Phúc Lộc Thọ bước chậm rãi trong sự hoan hỉ của dân làng tạo thành nét độc đáo bậc nhất vùng đất Kinh Bắc. Mới tờ mờ sáng, làng Thổ Hà đã được đánh thức bởi tiếng trống hội rền vang. Đình làng trở nên nghi ngút khói hương khi lớp lớp con cháu về dự hội thành kính thắp nén hương thơm tưởng nhớ tới công ơn của tổ tiên. Ba xóm trong làng đều tổ chức rước kiệu ra đình. Có tới hàng trăm người lo việc rước kiệu này. Người tham gia ai nấy đều ăn vận rực rỡ. Người sắm vai quan thì áo thụng, râu dài. Người sắm vai lính tráng thì vận áo ngắn màu đỏ, đội nón đỏ, quần xà cạp vàng và cầm nghi trượng. Các cụ, các bà, các cô, các chị… đầu vấn khăn, xúng xính trong tấm áo tứ thân, chiếc áo dài thướt tha nhiều màu sắc.

Đám trẻ con chạy hết góc này sang góc khác hào hứng với các trò vui. Trên dòng sông Cầu, dân làng tổ chức bơi trải, chèo thuyền bắt vịt, nhưng đông vui, náo nhiệt nhất vẫn là đám Quan họ. Hội làng Thổ Hà trở thành dịp để tôn vinh và tỏ lòng biết ơn Thành hoàng làng Thổ Hà và vị sư tổ của nghề gốm Đào Trí Tiến, là nét đẹp trong văn hoá của người Kinh Bắc, góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị thuộc về văn hoá Việt.

Trai làng lực lưỡng, nhanh nhẹn trong sắc phục ngày hội khiêng kiệu hoa, đồ tế. Đội bát nhã đủ cả kèn, trống, nhị, cò, thanh la não bạt. Trống cái đi giữa cầm trịch, người điều khiển vừa đi vừa múa. Hai bên đường, cờ ngũ sắc rợp trời. Không khí thật sôi động. Người xem hội đứng chật ních.

Sau tế lễ là phần hội. Dân làng tổ chức thi làm đồ gốm, làm bánh tráng. Thanh niên tham gia đấu vật, chơi hội chọi gà, thi đấu cờ tướng… Đám trẻ con chạy hết góc này sang góc khác hào hứng với các trò vui. Trong ngày hội, ngoài việc rước kiệu còn có các hoạt động như đấu cờ, đánh vật, chọi gà và những đêm diễn xướng tưng bừng suốt mấy ngày đêm hội. Những sinh hoạt văn hoá ấy được định hình và định lệ thành khoán ước của dân làng rất sớm. Lễ vật đặc sắc dâng cúng là: Bò thui, Lợn quay, Gà trống.

Trên dòng sông Cầu, dân làng nô nức tổ chức bơi trải, chèo thuyền bắt vịt, nhưng đông vui, náo nhiệt nhất vẫn là đám Quan họ Thổ Hà. Lời hát trữ tình và mượt mà của các “liền anh, liền chị” làm nao lòng biết bao du khách gần xa. Tối đến, các “nghệ sỹ” làng Thổ Hà còn tổ chức hát tuồng tại sân đình. Khách và dân đến xem ngồi chật kín quanh sân khấu. Dịp lễ hội, dân làng Thổ Hà có một tục lệ đặc biệt là nhà nào cũng mở cửa đón khách về dự hội vào ăn uống. Dân làng Thổ Hà quan niệm rằng, gia đình nào vào ngày hội càng đón được nhiều khách thì chứng tỏ càng ăn nên làm ra, khỏe mạnh, hạnh phúc. Hội làng Thổ Hà là dịp để tôn vinh và tỏ lòng biết ơn Thành hoàng làng Thổ Hà và vị Sư tổ của nghề gốm là ông Đào Trí Tiến. Đây là nét đẹp trong văn hóa của người Kinh Bắc, góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị thuộc về văn hóa Việt.

Đoàn rước ra tới đình thì hạ kiệu tại sân đình. Kiệu được xếp đặt rất lề lối, trình tự. Tại đây, từ sáng sớm, chánh tế, thông xướng, cùng toàn bộ bô lão trong ban tế quần áo đã chỉnh tề đón đám rước từ các miếu về đình làng. Chủ tế đứng ở bậc tam cấp đón đám rước. Khi mọi người yên vị, cuộc tế bắt đầu với những nghi thức long trọng. Có thẻ nói, làng Thổ Hà không chỉ đẹp bởi khung cảnh làng quê yện bình mà Thổ Hà còn đẹp bởi những giá trị văn hóa, những phong tục truyền thống, các lễ hội đặc sắc.

Đặc Sắc Lễ Hội Đền Từ Hả

Lễ hội Đền Từ Hả được tổ chức từ ngày 6 đến 8 tháng Giêng âm lịch, tại xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn, nơi thờ thượng tướng quân Thân Cảnh Phúc, người có công trong cuộc chống quân Tống xâm lược thế kỷ thứ XI (1075-1077).

Tương truyền cách đây hàng nghìn năm, vào đời nhà Lý (thế kỷ X – XI), tại xã Hả Hộ thuộc Động Giáp, là Châu Lạng của nước Đại Việt, đây là một động lớn của vùng Bắc Giang, dòng họ Giáp sống ở động này đã từng nổi tiếng trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Các tù trưởng, tộc trưởng vùng này đều thuộc dòng họ Giáp được kế tiếp nhau qua nhiều thế kỷ. Vào thời Lý họ Giáp ba đời có người làm phò mã cho nhà Lý, như: thời Lý Thái Tổ có Giáp Thừa Quý; thời Lý Thái Tông, Thân Thiệu Thái (1029) lấy công chúa Bình Dương; Thời Lý Nhân Tông Thân Cảnh Phúc (1066) lấy công chúa Thiên Thành, các phò mã họ Giáp giỏi đánh giặc đã được nhân dân tôn sùng và lịch sử đã ghi là những “Thiên Thần Động Giáp”. Hội Từ Hả là lễ hội thờ tướng quân Vũ Thành (Thân Cảnh Phúc) phò mã nhà Lý (1066) đã có công chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Để ghi nhớ đến công lao to lớn của người, hàng năm nhân dân trong vùng mở hội từ mồng 6 đến mồng 8 tháng giêng, trong đó có rước hội, cuộc rước là diễn lại sự tích đi đánh giặc của Người.

Theo lệ xưa, tổ chức lễ hội đền Hả được chia cho 4 giáp: Kép, Trong, Hăng và Nguộm. Mỗi năm, 4 giáp chọn ra một giáp đăng cai, 4 giáp chọn ra một ban khánh tiết. Ban khánh tiết gồm: hội chủ; thầy cả; đương cai; thư văn; bồi tế; chắp hiện; hỏa khí; đạo tràng; các bậc trưởng lão; thủ từ; và 4 nhà chức trách của làng. Ban khánh tiết có trách nhiệm tổ chức lễ hội theo nghi lễ và nghi thức của nhà thánh đã truyền lại từ xưa đến nay. Hội được tổ chức vào 3 ngày, mồng 7, mồng 8 và mồng 9 tháng Giêng hàng năm. Ngày mồng 8 là ngày chính hội. Trong cả 3 ngày đều có tổ chức tế, lễ tại đền và chùa. Riêng ngày mồng 8 được tổ chức tại Bãi Dược, vừa tế lễ, vừa diễn ra các trò vui. Cuộc rước và tế ở Bãi Dược được tiến hành từ giỡ Mão đến giờ Ngọ của ngày mồng 8 tháng giêng. Đây là một màn diễn lại tích đức thánh Vũ Thành cầm quân đi đánh giặc giữ nước. Tích diễn này chính là nét độc đáo nhất và tiêu biểu nhất của lễ hội Từ Hả. Nghi thức và nghi lễ ngày mồng 8 tháng Giêng được bắt đầu bằng nghi lễ giao tín. Lễ giao tín được tế vào giờ Mão (6 -7 giờ sáng) do các quan viên đảm nhận. Đây là lễ dâng cỗ chay trình nhà Thánh, và mời thánh cầm quân ra trận.

Đúng giờ Tỵ có lệnh cho đoàn rước khởi giá. Đoàn rước tượng trưng cho đoàn quân lên đường đi đánh trận. Vì thế, đoàn rước phải đi rất trật tự âm thầm, cờ sai, quân rẹp đường chỉ lấy hiệu lệnh chuyền nhau 27 lá cờ ngũ hành được quấn lại vào cột cờ, trống, chiêng phải thu hết dùi không được đánh. Kỳ lân, sư tử cũng im lìm bước, ngựa đóng yên cương cũng từ từ bước. Hộ vệ vác đao, bát bửu nghiêm trang, đi đều không được nói. Kiệu ông, kiệu bà chậm rãi rước theo đoàn quân. Đoàn rước cứ im lặng thế đi qua miếu Bà Lão Hậu ở dưới gốc đa rồi qua bãi trống, bãi chiêng, bãi lá cờ… rồi tiến quân vào chân đồi bãi Dược dừng lại. Đây là nơi ém quân chờ thời cơ xung trận. Sau lễ vật thờ các cuộc tế lần lượt diễn ra. Lễ vật dâng lên thánh ở bãi Dược cũng được chuẩn bị chu đáo, đúng nghi thức và đẹp mắt. Sau tế lễ mừng công thì tiếp đến là lễ đảo cờ lần một và lần hai. Lễ đảo cờ đặc trưng cho 2 lần đi đánh giặc của tướng quân Vũ Thành. 27 lá cờ được chia thành hai hàng ở trước kiệu thánh, 13 lá một hàng, còn 1 lá cắm riêng một chỗ. Các trai đinh của giáp đăng cai ở đúng vị trí và sẵn sàng chờ lệnh đảo cờ. Khi lệnh phát, 13 lá cờ bên tả chạy sang chỗ của 13 lá cờ bên hữu và ngược lại. Thời gian đảo cờ rất nhanh, cự ly chạy bên này sang bên kia là 100m, nên các trai đinh phải vận động nhanh nhẹn. Đảo cờ là biểu diễn của một trận đánh. Lễ đảo cờ lần hai được diễn ra vào lúc 13 giờ và cũng tiến trình như vậy, chỉ khác sau lần đảo cờ thứ hai thì rước thánh hồi cung. Việc đảo cờ lần hai được truyền lại, là đức thánh Vũ Thành đánh quân phương Bắc 9 trận thắng, đến trận thứ 10 thì bị thương, phải chạy về phía sau; vì thế khi thánh hoàn cung qua miếu Lão Hậu bên gốc đa thì phải dừng lại để tưởng nhớ việc tướng quân Vũ Thành khi bị thương có qua đây và hỏi bà già bán nước là “Mất đầu thì sống hay chết”… Sau đó kiệu thánh tiếp tục được hoàn cung.

Tại bãi Dược, sau khi tế lễ xong các trò chơi được tổ chức, như: đu tiên, đá cầu chinh, kéo co, đẩy gậy, vật cổ truyền, võ dân tộc. Ngày nay còn thêm bóng đá, cầu lông và hát múa. Khi thánh đã hồi cung thì dưới bóng cây cổ thụ, 2 thảo xá được dựng lên trước sân để chờ đoàn rước vào lễ hỏa xá và lễ mộc dục. Lễ thảo xá là nghi thức hóa sinh cho nhà thánh về cõi vĩnh hằng. Nơi đây chính là nơi con ngựa bạch đưa tướng quân Vũ Thành về hóa tại đó. Để tượng trưng cho sự hóa sinh ấy người ta đã chặt cây gác vào nhau (gọi là thảo xá) đến giờ dậu thì thảo xá được đốt đi và tiễn thánh về với cõi hư vô. Anh lính của đức thánh được nhân dân tổ chức lễ mộc dục (tắm gội), tẩy hết bụi trần để siêu thoát về nơi tịnh độ. Lễ này được tổ chức ở ao mộc dục và đài mộc dục. Ao mộc dục được tượng trưng là bãi đất bằng có cỏ mọc, đài mộc dục là gò đất trước cổng, xây gạch vuông vắn. Nghi lễ mộc dục được diễn ra ở đây vào tối mồng 8 tháng Giêng, sau lễ hóa thảo xá. Tối mồng 9 tháng Giêng còn tổ chức lễ cầu siêu ở chùa Từ Hả (còn gọi là chùa Thiên Đài) để mãi mãi sinh linh của đức thánh Vũ Thành phù hộ độ trì cho con cháu làm ăn thịnh vượng.

Lễ hội Từ Hả diễn rã nhằm ôn lại quá khứ hào hùng của cha ông ta và tinh thần đoàn kết đáu tranh của dân tộc. Đây là một lễ hội lớn của nhân dân trong vùng nói riêng và huyện Lục Ngạn nói chung, lễ hội đã lôi kéo thu hút đông đảo quần chúng nhân dân và du khách thập phương về chảy hội. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, tham dự lễ hội đền Từ Hả, hãy tham gia các trò chơi truyền thống để yêu thêm các nét đẹp của dân tộc.

Độc Đáo Lễ Hội Cầu Nước Làng Vân

Lễ hội là một phàn của văn hóa, phong tục tập quán truyền thống dân tộc. Du lịch Bắc Giang, ngoài khám phá những điểm du lịch như làng Thổ Hà, Đồng Cao, khu du lịch suối Mỡ…thì Lễ hội là một sắc màu khác làm du lịch Bắc Giang.

Lễ hội cầu nước làng Vân diễn ra vào tháng 4 âm lịch hàng năm, tại làng Vân, xã Vân Hà, Việt Yên. Lễ hội là nét đặc trưng của văn hóa lúa nước, thể hiện niềm khao khát của cư dân nông nghiệp cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, trước ngày hội diễn ra, đường sá đầu làng cuối xóm được quét rửa sạch sẽ, nhà nhà treo đèn lồng rực rỡ, người người hân hoan chào đón lễ hội.

Tục truyền rằng, khi xưa có hai anh em Trương Hống, Trương Hát đi theo Triệu Quang Phục đánh giặc, khi đánh thắng quân Lương trở về đầm Dạ Trạch thì bị bọn quỷ đen ở đầm quấy phá. Hai bên xung trận, bọn quỷ ra điều kiện, nếu thắng, chúng phải được thưởng lớn; còn nếu thua, chúng sẽ quy phục theo hầu nhà thánh. Cuối cùng bọn quỷ đen thua trận, phải quy phục đức thánh Tam Giang ở đây. Chính vì vậy, dân làng Vân mở hội vật cầu (còn gọi là hội Khánh Hạ) vào ngày hóa của đức thánh, là với ý nghĩa hội mừng chiến thắng.

Theo các người cao tuổi ở làng cho biết, trước kia đây là vùng đất trũng hay bị lụt lội cho nên những năm sau này, để tránh lụt lội, hội vật cầu được tổ chức trong ba ngày là 12, 13, 14 tháng 4 âm lịch hằng năm. Quả cầu ở đây tượng trưng cho mặt trời. Nó được mang, được vác, được tung từ Đông sang Tây theo hướng mặt trời mọc và lặn. Cướp được cầu cũng có nghĩa là cướp được mặt trời, cướp ánh nắng cho lúa khoai.Trước khi hội mở 2 ngày, các cụ trong ban khánh tiết ra mở cửa đền để dọn dẹp, vệ sinh, lau chùi các đồ thờ phụng sau đó làm lễ tắm rửa cho nhà thánh bằng rượu gừng. Tiếp đó, chủ tế làm lễ phong áo tức là mặc áo vóc đại hồng cho nhà thánh rồi làm lễ an vị và kéo cờ hội. Bên ngoài đền, ban khánh tiết phân công người tổng vệ sinh trong khu vực hội.

Đặc biệt sân cầu phải được xới xáo cẩn thận, dọn dẹp sạch sẽ , được biết làng lại cử ra hai cô gái trẻ đẹp nết na, chưa có chồng, mặc trang phục truyền thống của phụ nữ vùng Kinh Bắc, gánh nước từ sông Cầu đổ vào sân cầu. Đồ gánh phải là đòn gánh cong, quang song và gánh bằng hai chĩnh gốm Thổ Hà. Việc tuyển chọn quân cầu được đặt ra rất khắt khe. Tổng số quân cầu được chọn là 16 người, đều phải là trai chưa vợ, khỏe mạnh, không có tang bụi, không có bệnh tật, dị tật, không có can phạm, can án. Tất cả quân cầu đều được huấn luyện 3 buổi chiều trước khi hội mở. Quân cầu cởi trần đóng khố, ngoài khoác áo dài the xếp thành bốn hàng dọc đứng trước sân quay mặt vào đền lễ thánh. Lễ thánh xong, quân cầu được lên sân đền Chính để uống rượu trận. Họ ngồi xếp bằng trong 4 hàng, hai bên quay mặt vào nhau, cỗ trận để ở giữa. Cỗ trận là các loại hoa quả như dưa hấu, vải thiều và rượu đựng trong 4 mâm, mỗi mâm 4 bát, 4 đĩa. Tất cả đều dùng que tre vót nhọn để ăn. Vừa ăn, họ vừa cười nói vui vẻ.

Sau khi ăn cỗ trận hội trai cầu được xếp thành 4 hàng ở trong sân cầu. Trống nổi lên, các trai cầu vào trận. Từ 20 quân cầu, vào trận mỗi bên chọn 8 người, còn lại là quân dự bị thay thế cho những trai cầu đuối sức. Lễ thánh, trai cầu làm các động tác hai tay đan vào nhau đặt trước bụng, giơ ngang tầm mắt, hai tay đan vào nhau đặt trước trán, cúi sát đất, quỳ gối, phủ phục 5 lần. Chuyển thành vòng tròn, các trai cầu tay trái giữ bụng, tay phải giơ cao đi vòng quanh sân cầu 5 lần vừa đi vừa hô vang phô trương thanh thế. Từ vòng tròn, quân cầu lại chia thành hai hàng và từ đây mỗi đội chọn 3 trai cầu làm lễ vật thờ trình thánh. Sau lễ vật thờ, giáp đương cai bê quả cầu làm bằng gỗ mít sơn son, nặng chừng 20kg từ đẳng để trước cửa đền Chính ra giữa sân cầu rộng 14 m, dài 18m được đổ bùn, nước vừa phải do 4 cô gái gánh nước từ sông Cầu đổ vào. Hai đầu sân có hai lỗ tròn đường kính 60cm, sâu chừng 1 mét để hai bên giao đấu bằng việc đưa quả cầu lọt vào lỗ cầu của đối phương được coi là thắng cuộc.

Sau tiếng chiêng trống nổi lên ba hồi 9 tiếng, hội vật cầu nước chính thức diễn ra. Trống nổi lên, tất cả quân cầu vào trận. Lúc này, quân cầu đang ở tư thế ngồi vòng tròn trong sân cầu, nhận tiếng trống lệnh liền đứng dậy nâng cầu lên trên đầu, vừa reo hò và tranh nhau quả cầu để đặt vào lỗ của bên đối phương. Ba người làm nhiệm vụ luyện cầu cũng đồng thời là những người cầm trịch. Nếu cầu ở giữa sân thì người đánh trống nhẹ nhàng, khoan thai, nhưng khi cầu được đưa đến gần lỗ của đối phương thì trống giục liên hồi để thúc quân. Cầu gần ra ngoài vạch thì đánh trống cắc, lúc ấy, hai bên không tranh nhau cầu nữa.

Luật quy định: dưới đánh lên, trên đánh xuống, đánh trong vòng 2 giờ thì giải lao. Khi nghe tiếng cắc, cắc, cắc…, quân cầu lại bê cầu đặt vào vị trí giữa sân để chờ hiệu lệnh của người cầm trịch điều khiển. Cứ như vậy, hoạt động cầu nước Vân Hà diễn ra trong 3 ngày cùng tiếng hò reo vang động cả một góc làng. Không chỉ trai cầu bám đầy bùn đất mà mọi người từ già đến trẻ vây quanh sới cầu ai cũng lấm lem bùn đất vì nước bùn bắn lên do trai cầu tranh cầu bắn tung tóe, nhưng ai nấy đều rất vui vẻ. Kết thúc cuộc chơi, xóm đăng cai rửa sạch cầu rồi làm lễ tạ thánh, lễ vật dùng để tế tạ gồm: trầu, rượu, hoa quả theo lệ làng đặt ra “sáng tế chiêu, chiều tế tịch”. Quân cầu lại xếp thành 4 hàng dọc trước sân cầu để tạ thánh, rồi tất cả ùa ra sông Cầu tắm rửa, kết thúc một ngày trong hội vật cầu nước.

Có thể nói, lễ hội cầu nước Làng Vân vừa thể hiện truyền thống văn hóa dân tộc, vừa là dip để người dân đoàn kết tìm hiểu nét đẹp văn hóa làng mình. Đây là một trong những điểm đến ở Bắc Giang nhiều du khách thích thú tìm về.

Lễ Hội Đền Suối Mỡ Linh Thiêng

Suối Mỡ là quần thể thắng tích, gồm hệ thống đền, đình cổ nằm ở ven bờ suối Mỡ. Đặc biệt, ngay trước cửa đền Thượng, do sự nâng bậc của dòng suối Mỡ với những khối đại thạch chặn dòng đã tạo nên dòng thác bạc tuyệt đẹp. Đền cổ, thác nước hùng vĩ, suốt bốn mùa hối hả tuôn chảy dòng nước bạc, đôi bờ là núi non hiểm trở ngút ngàn cây lá, lại gắn với huyền tích về nàng công chúa Quế Mị Nương nên Suối Mỡ đã trở thành địa điểm du lịch Bắc Giang hấp dẫn đối với du khách xa gần.

Đền Suối Mỡ bao gồm đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và một số đền phụ cận khác thờ công chúa Quế Mỵ Nương, con gái vua Hùng Định Vương. Theo truyền thuyết, công chúa là người có công mở suối khai nguồn nước mát, dạy dân cày ruộng cấy lúa và được suy tôn là Thánh Mẫu Thượng ngàn. Suối Mỡ được xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia từ năm 1988. Lễ hội đền Suối Mỡ có từ lâu đời, được tổ chức vào dịp cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch hàng năm, thu hút hàng vạn du khách đến dâng hương, trảy hội. Trong ngày vào hội, tục giã bánh dày thờ của hàng hội diễn ra rất vui, rất nhộn. Người ta vừa giã bánh dày vừa nói vui: “của bà thì méo, của tôi thì tròn, giã trật hai hòn, thờ cô Tích Mễ”. Theo tục lệ, dân làng đến lễ hội đền Suối Mỡ là dân tứ xứ. Các bà, các cô được dân sở tại cho rước trước ngày chính hội. Họ chia thành các đội ăn mặc quần áo rực rỡ, đội áo vàng, đội áo xanh, đội áo hoa, đội áo nâu, đội lại có mẫu hoàng yến. Đội nào cũng đoan trang cung kính cùng nhau rước lễ vào đền. Ngày rước hội là ngày rước của người dân sở tại.

Làng Dùm có ngôi đình to cách đền hơn 1 km về phía đông. Tinh mơ dân làng và quan viên đã tế lễ ở đình. Tế xong xin rước sắc và bài vị ra đền suối. Đám rước trống dong, cờ mở qua đền cây Xanh đến xế trưa mới tới đền Hạ.

Nổi bật trong phần hội của Lễ hội đền Suối Mỡ là các hoạt động văn nghệ như: hát văn, hát quan họ. Bên cạnh đó còn có các trò chơi dân gian như: cờ tướng, cờ bỏi, chọi gà, vật, đu, chọi gà, bắn cung, võ dân tộc, đi cầu thùm, bịt mắt đập niêu và đu tiên…trong đó, bắn cung và võ dân tộc do người bản địa biểu diễn. Thi bắn cung được mở ở gần khu đền. Cung làm bằng gỗ dâu, néo dây căng. Tên là tre già và cứng, vát nhọn đầu, đuôi gấp mo tre làm cánh tên. Đích bắn làm bằng cót hay lấy mẹt vẽ hồng tâm. Người bắn đứng xa năm chục bước, tuỳ theo ban giám khảo quy định. Ai bắn trúng cả ba mũi tên vào giữa hồng tâm là thắng. Còn võ dân tộc thì có đi quyền, múa côn, múa kiếm, múa đao…. Tối đến nhà đều có tổ chức chầu văn. Các đội chầu văn được bố trí hát ở tiền đường. Thường thì dân làng sở tại ưu tiên cho các đội chầu văn hàng hội của Chí Linh, Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương) biểu diễn cho dân và khách thập phương xem.Cũng thời điểm ấy, dân làng Quỷnh cũng rước từ đình Quỷnh ở phía Tây Suối Mỡ rước lên,đi qua nghè Hàn Lâm để vào đền Trung làm lễ. Khi đám rước tới đền Hạ thì tế an vị. Những năm hội lớn, lễ này thường mổ lợn to. Cuộc tế này diễn ra ở ngay sân tiền đường của đền Hạ. Trong ngày vào đám, nhà đền chịu trách nhiệm đón khách quý. Các quan phủ, huyện, các chánh tổng lân cận có nhà quan cư, bên cạnh ghế tiếp khách còn đặt một “ cái cùm” để răn đe.

Ngoài việc tế lễ, hội đền còn tổ chức thi bắn cung, võ dân tộc, đi quyền, múa côn, múa kiếm, múa đao…. Tối đến nhà đền có tổ chức hát chầu văn. Các đội hát chầu văn được bố trí hát ở tiền đường. Thường thì dân làng sở tại ưu tiên cho các đội chầu văn hàng hội của Chí Linh, Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương) biểu diễn cho dân và khách thập phương xem. Khách đến lễ hội đền Suối Mỡ rất đông. Trong đó có các bà, các cô, các mẹ, các chị chủ yếu đi lễ và xem hát chầu văn; Thanh niên nam nữ trẻ, chưa vợ hoặc chưa chồng thì đi bộ leo suối, leo núi. Các ông hương ẩm uống rượu, uống trà với các quan viên chức sắc sở tại. Rượu ở Nghĩa Phương xưa là rượu gạo, men nấu bằng ba gỗ, ty ô tre, rất thú vị.

Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, chè ở Nghĩa Phương là chè ngon có tiếng, các nơi đều ưa dùng. Suối, núi ở Suối Mỡ hoà với nhau rất hữu tình. Từ đền Trung lên đến đền Thượng có 5 thác nhỏ đổ xuống. Thác ở ngay cửa đền Thượng gọi là thác Đầu Voi. Lui xuống là thác Cao. Lớn nhất suối là thác Vực Mỡ. Các thác khác tuỳ theo khe, dốc tạo nên cảnh khá đẹp. Đá suối chồng nên nhau, xếp thành các hình thù, xen bên các bồn nước quanh năm phủ bóng cây rừng mát mẻ làm cho bước chân leo trèo mãi không chán.

Xem thêm: Khu Du Lịch Cát Cát Sapa – Ngôi Làng Đẹp Nhất Tây Bắc


Chưa có bình luận về Khám Phá Bắc Giang Nơi Có Nhiều Lễ Hội Đặc Sắc Nhất Việt Nam