Hotline: 0969 870 707

Điểm Danh Đặc Sản Tây Bắc Mà Các Bạn Cần Thưởng Thức Khi Đi Du Lịch

Tây Bắc đã vào mùa du lịch, cùng bạn bè, gia đình tổ chức 1 chuyến du lịch lên vùng rừng núi xinh đẹp hùng vĩ thì còn gì bằng. Cảm nhận thiên nhiên, cảm nhận con người, cảm nhận văn hóa và không thể thiếu những món ăn ẩm thực đặc sắc của núi rừng Tây Bắc. Và 1 điều ý nghĩa nữa khi bạn lên với Tây Bắc, chính là ủng họ và giúp đỡ bà con dân tộc vượt qua khó khăn mà thiên thiên đã gây ra. Chia sẻ nổi đau, khỏa lấp những vết thương về tinh thần, vật chất cùng bà con sẽ thật ý nghĩa biết bao. Không cần nhiều, không cần cao sang, tầm lòng của các bạn chỉ cần gói mì, chiếc bánh lúc bà con đang đói, giúp đỡ cho bà con tấm áo, quyển tập cho những đứa trẻ là đủ rồi. Du lịch lên Tây Bắc không chỉ là chơi, không chỉ vui mà còn là trái tim, người dân tộc chân chất sẽ không quên dù là những điều nhỏ nhặt.

Nếu có điều kiện thì việc ăn uống và mua đặc sản của bà con về làm quà cùng là 1 hình thức ủng hộ rất tốt rồi. Dưới đây chúng tôi sẽ gửi đến các bạn một số món ăn, một số đặc sản để các bạn lựa chọn và thưởng thức khi đi du lịch Tây Bắc.

Xem thêm: Tour du lịch Sapa 

Cá Hấp Lá Vả

Mặc dù là miền núi nhưng các món cá luôn là 1 loại đặc sản cần được nhắc đến khi đi du lịch Tây Bắc, cá ở Tây Bắc chủ yếu là các loại cá tự nhiên ở suối và hồ, rất ít các loại cá nuôi nên chất lượng thịt cá ở đây rất ngon. Người dân bản và du khách đều rất thích món cá được chế biến một các tự nhiên kết hợp với các loại rau dại và gia vị núi rừng.

Người vùng cao Tây Bắc có cách chế biến cá khá độc đáo và đậm đà hương vị. Từ những cây lá trên rừng, trong vườn nhà, họ đã chế biến món cá hấp tuyệt ngon. Đặc biệt là món cá hấp lá vả.

Cá được chế biến và ướp gia vị trước khi hấp

Bí quyết để người Tày vùng Tây Bắc chế biến món cá hấp chính là ở lá vả. Theo đó, họ dùng lá vả để gói cá rồi hấp cách thủy giúp món cá hấp vốn quen thuộc trở nên lạ miệng nhờ dư vị riêng có.

Vả là loại cây rừng mọc nhiều ở ven suối, triền núi. Lá vả to bản, màu xanh, lúc còn non mềm và có vị hơi chát. Từ lâu, người Tày Tây Bắc dùng lá vả để hấp cá và cuốn gỏi cá.

Bất kỳ loại cá nào cũng có thể hấp lá vả được. Cá sau khi làm sạch xắt khúc hoặc để cả con. Các loại rau thơm trong vườn nhà như củ sả, lá mùi tàu, húng, rau răm, hành lá, kinh giới… được hái rửa sạch rồi băm nhỏ rồi trộn với cá.

Sau khi cá được trộn với hỗn hợp rau thơm, nêm gia vị và rắc thêm hạt mắc khén giã nhỏ để tạo vị thơm mang ướp chừng 15 phút cho ngấm, rồi dùng lá vả gói từng miếng cá thành từng gói sao cho kín cùng hỗn hợp rau thơm.

Cá gói xong đặt vào nồi hấp chừng 40-45 phút là chín.

Cá hấp sau khi chín

Cá chín, để giữ độ nóng, người chế biến để nguyên gói cá trong nồi. Khi ăn, chỉ cần bóc lớp lá vả bên ngoài là có thể thưởng thức được.

Cá gói lá vả khi hấp cách thủy sẽ giữ nguyên được vị thơm ngọt, vị ngon của gia vị, không bị mất nước vì thế sẽ đậm đà hơn cả so với các món cá khác.

Món cá hấp lá vả mang đến nhiều dư vị, có vị ngọt, thơm của cá, vị cay nhẹ của sả, vị thơm của các loại lá và hạt mắc khén. Đặc biệt, nhờ lá vả, cá sẽ không còn vị tanh mà thơm mùi lá vả.

Khi ăn, nếu muốn đậm đà hơn thì nên chấm cá với muối dầm ớt nướng, thêm chút hạt dổi rừng.

Món ăn này được người vùng cao Tây Bắc chế biến quanh năm, dùng để ăn với cơm hoặc mời khách quý. Đó là món ăn vừa sạch, vừa bổ dưỡng cho cơ thể.

Cơm Lam Nếp Nương

Một món ăn không lạ đối với người dân ở các khu vực phía Bắc, có thể là chưa được thưởng thức nhưng tên gọi thì khá quen thuộc. Đó chính là cơm lam món ăn đặc sản của rất nhiều bà con dân tộc, nhưng cơm lam nếp hương thì khá khác biệt, do loại gạo nấu cơm lam này hoàn toàn khác dẫn tới hương vị cơm lam sau khi được làm ra cũng khá biệt theo.

Lên Tây Bắc những ngày đầu đông, bạn hãy tìm cho được món cơm lam nếp mới, món ăn vốn được người dân chế biến kiểu “dã chiến” trên nương rẫy mà không cần mang theo xoong nồi. Họ chặt ống tre để nướng cơm, bắt cá suối nướng trên bếp lửa, vậy là có bữa cơm.

Cơm lam và các món nướng khác được bán nhiều ở các điểm du lịch phía bắc

Gạo nếp mới có thể trộn ít gạo nếp cẩm (màu tím), cho thêm chút muối và gừng, ngâm qua đêm, rồi cho vào ống tre, thêm chút nước và nút đầu lại bằng lá chuối. Ống tre, ống nứa hoặc ống vầu (một cây thuộc họ tre) đều có thể làm cơm lam, quan trọng là có đủ độ tươi và độ dày. Theo những người có kinh nghiệm, ống dài 25 – 30 cm là phù hợp nhất để làm cơm lam.

Ống cơm được nướng trên than hồng hoặc vùi trong bếp lửa, liên tục quay để gạo chín đều hoặc không bị cháy. Cơm lam chín ngon là khi ăn bóc lớp vỏ cứng bên ngoài vẫn còn một lớp vỏ lụa của ống tre dính vào phần cơm, cơm chín đều, có độ dẻo và thơm mùi nếp mới pha chút ngai ngái của ống tre tươi.

Cơm lam nướng chín đều nhờ người nướng khéo léo.

Người Tây Bắc thường ăn cơm lam nóng với muối vừng, cá suối nướng hoặc thịt heo rừng nướng bày trong lá chuối. Người dân tộc Thái chấm cơm lam với chẳm chéo (chẩm chéo), thứ gia vị đặc biệt làm từ muối, ớt, tỏi và hạt mắc khén. Các quán ăn phục vụ cơm lam cho du khách có thêm gà đồi nướng mật ong, bò nướng ống tre và rượu cần. Quây quần bên bếp lửa và thưởng thức những sản vật của núi rừng tạo nên món ăn dân dã sẽ là kỷ niệm khó quên trong hành trình khám phá Tây Bắc.

Cơm lam ăn cùng thịt nướng và chẩm chéo đúng điệu Tây Bắc.

Các tỉnh như Yên Bái, Sơn La, Lào Cai… đều bán cơm lam, gà nướng ở các nhà hàng, quán ăn ở khu vực trung tâm và đông du khách như Sapa, Mù Cang Chải, Tú Lệ. Gần Hà Nội nhất là khu vực Bản Lác ở Mai Châu (Hòa Bình) cũng bán nhiều cơm lam. Bạn có thể ăn trong bữa cơm hoặc mua mang về với giá khoảng 10.000 đồng một ống.

Khi mua cơm lam về dưới xuôi thì trước khi ăn các bạn có thể nướng hoặc cho vào lò vi sóng để làm nóng lại. Vì cơm lam sẽ ngon hơn khi ăn nóng.

Măng Sặt

Nếu bạn đã quá chán với các loại măng chua, hay lo sợ các loại  măng bị ngâm tầm hóa chất thì lên Tây Bắc đừng quên ăn và mua về 1 loại măng rất dân dã mà người ta gọi là Măng Sặt.

Người ta gọi loại đặc sản của núi rừng Tây Bắc ấy bằng một cái tên giản dị – măng sặt, thứ măng chỉ có ở núi rừng này. Dân dã, nhưng một lần ăn thì nhớ mãi.

Măng sặt là một đặc sản chỉ có ở một số tỉnh vùng núi Tây Bắc

Măng sặt mọc nhiều trên núi cao ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Yên Bái, Lào Cai… Măng mọc thành từng cụm dày, sinh sản rất nhanh, cứ trồi lên khỏi mặt đất rồi đâm tua tủa. Ngọn măng nhọn, dong dỏng cao, lá nhỏ.

Loại măng này dễ nhận biết bởi thân nhỏ chỉ bằng đầu ngón tay cái, vỏ bóng, màu xanh pha màu lam vàng.

Vào mùa măng sặt mọc, người dân bà con lại đeo gùi lên núi hái măng. Từ cảnh những cô sơn nữ đeo gùi đi hái măng đến cảnh người dân xúm quanh hàng măng sặt dọc chân núi làm khung cảnh cuộc sống núi rừng thêm gần gũi, ấm áp.

Khi bóc măng để chế biến, bà con thường dùng lưỡi dao mỏng, sắc lia nhẹ dọc thân măng, để lộ màu trắng nõn của lõi rồi dùng tay bóc toàn bộ lớp vỏ còn lại.

Là một đặc sản đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, măng sặt được chế biến thành nhiều món ngon và đặc trưng. Thưởng thức một lần là nhớ mãi.​

Măng Sặt thường được bó thành các bó nhỏ để bán

Với món măng sặt om xương, măng đã bóc vỏ để nguyên ngọn dài khoảng một gang tay. Xương sườn chặt vừa miếng cho vào xào cùng măng trên bếp lửa. Xào chừng 10 phút cho măng và xương ngấm gia vị, cho nước xâm xấp măng rồi đậy vung om khoảng 1 giờ.

Khi cả măng và xương đều mềm thì thêm gia vị cho vừa ăn là được. Món này ngon ở vị giòn, bùi, ngọt của măng sặt, vị thơm, béo của xương sườn.

Thứ hai là món măng sặt xào. Măng sặt được bóc vỏ, đập giập trên thớt gỗ hoặc thái lát sau đó xào với lòng gà hay thịt bò đều hấp dẫn. Món xào hấp dẫn và nổi bật ở cái giòn sần sật và mùi vị của măng hòa với lòng gà hay thịt bò.

Thứ ba là món măng sặt luộc. Món này đơn giản bởi sau khi măng đã được bóc sạch vỏ chỉ cần cho vào nồi luộc chừng 30 phút là đã có ngay một món “rau” tươi ngon.

Măng sặt luộc để cả ngọn nên ăn có vị giòn, thơm, nhân nhẫn và ngọt bùi. Đặc biệt, chấm với muối vừng hoặc mắm tôm dư vị càng thêm đậm đà.

Ngoài các món ăn quen thuộc, măng sặt còn được người dân Tây Bắc chế biến thành các món độc đáo và hấp dẫn như món sặt nướng trên than củi, măng sặt lam cùng cá suối trong ống nứa, măng sặt hầm cá, hay măng sặt ngâm chua cay…

Tất cả đều nổi bật ở vị giòn, thơm của măng sặt hòa cùng dư vị của các món ăn kèm.

Măng Sặt nướng là món ăn được chế biến đơn giản nhưng rất ngon

Với người dân vùng Tây Bắc măng sặt là một đặc sản mà núi rừng ban tặng, từ lâu đã có mặt trong vốn ẩm thực truyền thống. Thưởng thức dù chỉ một lần món ăn dân dã này ai cũng nhớ tới hương vị đặc trưng của núi rừng xa xôi.

Sâu Tre

Đúng như tên gọi của nó, sâu tre là một loại ấu trùng sống trong những đốt tre. Nó có màu trắng muốt, dài bằng hai đốt ngón tay. Sâu tre có hàm lượng đạm cao, giàu chất dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe.

Cây tre bị sâu tre ký sinh thường có biểu hiện héo ngọn, đốt tre bị co rúm, ngắn lại khác thường. Mùa sâu tre bắt đầu từ tháng 9 kéo dài đến cuối tháng 10. Sâu tre sinh sôi nảy nở nhiều và béo nhất vào lúc này.

Để bắt sâu, người đi rừng sẽ dùng dao chặt ngang ống tre tạo hốc để kiểm tra. Nếu thấy có sâu bên trong sẽ tiến hành làm rộng hốc tre và dùng tay bắt. Mỗi tổ có thể có chứa tới nửa kg sâu đang sinh sống.

Sâu tre được người Thái hấp hoặc chao trên dấu nóng, có vị béo ngậy và chấm cùng nước măng chua.

Loài sâu này chỉ sống trong thân cây tre nên rất sạch. Người Thái đi rừng sẽ chọn những cây tre đang lớn bị tù đầu không thể cao, phần thân dưới to hơn những cây tre khác nghĩa là trong đó đang có sâu làm tổ. Mỗi tổ có thể cho ra hàng cân sâu. Sâu tre có thể hấp hoặc chao trên dầu nóng. Do món này rất ngậy và giàu đạm nên phải có thứ nước chấm đặc trưng đi kèm là nước măng chua.

Vì giá trị dinh dưỡng cao và có hương vị đậm đà, ngon miệng nên rất nhiều người tìm mua sâu tre để ăn. Tuy nhiên, lượng cung không đủ cầu dẫn đến giá thành của món sâu tre này khá đắt đỏ, khoảng 500.000 đồng/kg sâu tre.

Tuy nhiên, món ăn đặc sản này cũng dễ gây dị ứng, có thể gây ngộ độc đối với một số người có cơ địa không phù hợp nên mọi người cần cân nhắc trước khi nếm thử món ăn này.

Cá nướng (Pa pỉnh tộp)

Đồng bào người Thái sống chủ yếu dựa vào sông suối, ao hồ. Cá tôm là nguồn nuôi sống chính. Từ con cá có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau. Cá sống mổ làm sạch ướp nhiều loại gia vị, sau đó kẹp nhân thịt, gấp đôi lại nướng trên than hồng. Món ăn này có vị thơm, ngậy, thịt cá ngọt, dai, vị đượm thì sẽ đạt chất lượng.

Cá được làm sạch vảy rồi mổ. Khác với cách mổ cá thông thường ở dưới bụng, người Thái mổ dọc theo sống lưng, để cá dễ gập úp lại, rồi khía những đường song song trên mình cá. Dao mổ cá phải thật sắc, vết mổ thật gọn để giữ được nguyên các thớ thịt.

Tiếp theo, cá được sát qua chút muối cùng ớt bột khô để khử bớt mùi tanh và chắc thịt. Những gia vị là các loại rau thơm như quả mắc khén (một loại hạt tiêu rừng), gừng, tỏi, sả, hành, rau thơm rừng, ớt bột… băm nhỏ, trộn lẫn với nhau và sát đều lên mình, đồng thời nhồi vào trong bụng cá.

Người Thái sẽ gấp đôi mình con cá theo chiều ngang, kẹp vỉ hoặc que nướng bằng tre tươi để giữ và nướng đều trên than hoa đã quạt hồng.Lửa than phải đều và nhỏ để cá chín đều và ngấm. Cá nướng xong, tỏa mùi thơm ngào ngạt.

Suốt quá trình nướng, những gia vị được tẩm ướp và kẹp trong bụng cá sẽ thấm dần, giúp món ăn vừa nhanh chín, lại có hương vị thơm ngon đậm đà hơn.Cá vừa chín tới, người làm gỡ khỏi vỉ và bày lên đĩa. Mùi thơm ngọt của cá chín quyện hương nồng từ các gia vị tỏa ra đầy mời gọi. Nhiều thực khách miền xuôi khi nếm thử cũng phải cất lời khen hương vị độc đáo không lẫn với bất cứ món cá nào từng thưởng thức trước đó.

Ai được thưởng thức món ăn đặc sắc này chắc cùng phải bất ngờ. Cá nướng khô, chắc, thịt cá thơm nức mũi, hòa quện đủ vị chua, đắng, mặn, ngọt của các gia vị, tôn lên vị ngọt béo của cá. Hương vị lạ miệng, thơm ngon có được nhờ sự pha trộn tinh tế các loại gia vị, có đủ vị cay, chua, đắng, ngọt, không làm mất đi vị cá, thậm chí còn “tung hô” cho những thớ thịt cá ngọt ngậy.

Gói cá

Cá trắm, cá mè còn tươi sống, lột bỏ xương và da lấy phần thịt trộn đều với rau rừng và rau thơm, cuối cùng cho thêm nước măng chua.

Món gỏi này chỉ lấy hai lườn thịt nên đầu đuôi cá còn thì để nấu canh chua. Sau khi đã lọc được thịt cá, rửa ngay vào nước muối đặc rồi bọc vào trong giấy trắng sạch. Vậy là sơ chế cá đã xong.

Đi rừng bắt được con cá ngon là tìm ngay bông hoa chuối chặt về để chuẩn bị làm món gỏi cá. Hoa chuối được thái sợi, ngâm trong nước có vắt vài quả chanh, thì sau lấy ra hoa chuối mới trắng đẹp.

Ở một số vùng người Thái, họ không thích ăn món gỏi cá với hoa chuối mà với cây chuối non. Về cơ bản thì hai món gỏi này có cách chế biến và hương vị gần giống nhau. Chặt lấy thân cây chuối non, bóc mấy lớp bẹ già bên ngoài,chỉ để lại phần lõi chuối nõn nà, trắng trắng, mềm mềm. Cũng thái nhỏ rồi ngâm vào nước muối cho bớt chát, bớt nhựa.

Đặc trưng của món ăn này là không bị tanh, nước măng làm chín thịt cá, hương hạt tiêu và hoa chuối rừng sẽ bật lên vị chát nhẹ và chua dịu.

Người Thái có một bí quyết tạo nên hương vị đặc biệt của món gỏi cá đó chính là cách pha nước trộn gỏi. Thay vì dùng chanh pha chua ngọt như các món gỏi thông thường, bà con dùng nước măng chua để làm nước trộn. Nước măng chua được lấy từ trong hũ măng được ngâm cả năm, thơm mùi măng. Dùng để nấu các món canh chua, trộn gỏi đều rất ngon…

 Đun chín nước măng chua, rồi gia giảm các gia vị còn lại cho đủ vị chua cay mặn ngọt. Mang hai miếng cá được bọc khô lúc đầu ra thái mỏng,cùng hoa chuối và nước trộn, thêm vài loại rau thơm trộn đều. bày ra đĩa. Vậy là đã xong món gỏi cá với hoa chuối.

Trong bữa cơm đãi khách, có món gỏi cá trộn hoa chuối là khách vui lắm. Biết mình là khách quý mới được chủ nhà làm cho món ăn ngon như vậy để nhắm rượu. Gắp miếng gỏi cá, trong vị ngọt dai dai của cá là vị giòn giòn của hoa chuối, dậy mùi rau thơm. Nhấp chén rượu cay nồng tưởng chừng như câu chuyện bên bàn rượu nói mãi không dứt..

Nộm da trâu

Món nộm da trâu là đặc sản của người Thái sinh sống ở Sơn La. Với người Kinh, da trâu thì thưởng dùng làm trống thì người dân tộc Thái lại tạo ra một món đặc sản Sơn La bán ở Hà Nội vô cùng hấp dẫn và độc đáo. Món nộm da trâu cũng không quá khó khăn trong khâu chế biến nhưng nó đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì. Ngoài nguyên liệu chính là da trâu ra thì người Thái Sơn La còn dùng nhiều loại gia vị khác nhau làm cho món ăn trở nên hấp dẫn về màu sắc và mùi vị. Thưởng thức món nộm da trâu vào tiết trời se lạnh cùng vài chén rượu ngô bên bếp than hồng sẽ mang lại cho những người yêu mến đặc sản Sơn La những trải nghiệm thú vị khó quyên về một món ăn độc đáo và rất lạ này.

Để có được món nộm da trâu ngon, được mệnh danh là đặc sản Sơn La thì khâu chế biến da trâu vô cùng quan trọng. Da trâu dày, cứng nên cần phải được xử lý đúng cách để món ăn không bị cứng, khó ăn. Da trâu trước khi được chế biến thành món nộm, người ta sẽ nướng chín da trâu trước, làm sạch. Sau khi qua công đoạn này, miếng da trâu sẽ có màu vàng.


Cạo bỏ lớp ngoài của miếng da trâu để khi ăn có độ giòn, không bị dai, cứng, miếng da trau cũng có độ trong nhất định. Sau khi da trâu đã được làm sạch, người ta lại đem luộc da trâu từ 1,5 đến 2 giờ đồng hồ. Sau khi luộc xong, da trâu sẽ được thái mỏng. Vì da trâu rất cứng nên công đoạn thái cũng cần thời gian và có kỹ thuật.

Món nộm này chỉ được làm khi gia đình có hiếu hỷ, hoặc nhà có khách quý, bởi sơ chế rất mất thời gian. Da trâu làm sạch, thái mỏng, đập giập ướp nhiều gia vị. Khi ăn sẽ có cảm giác dòn, dai, rau thơm và hạt tiêu rừng khiến những vị khách khó tính không để đôi đũa nghỉ.

Gia vị luôn được người dân tộc Thái sinh sống ở Sơn La sử dụng nhiều trong các món năn. Rất nhiều loại gia vị của Sơn La cũng được đánh giá là những món rất độc đáo và không nơi nào có.

Ngoài lạc, ớt, rau mùi, gừng…người Thái Sơn La còn dùng rau dớn, hoa chuối và đặc biệt không thể thiếu hạt mắc khén Sơn La bán ở Hà Nội. Ngoài những loại gia vị trên, thứ làm nên nét độc đáo của món nộm da trâu có lẽ là nước măng chua. Không chua như giấm hay chanh nhưng nước măng chua làm cho da trâu trở nên mềm và giòn hơn. Nước măng chua cũng làm cho món nộm da trâu Sơn La không bị ngấy khi ăn.

Khi đã có đầy đủ nguyên liệu, tất cả các loại gia vị phải được băm hay giã nhỏ, trộn cùng với các loại rau thơm. Nêm nếm gia vị cho vừa ăn. Khi ăn, thấy món nộm da trâu Sơn La giòn, có vị thanh dịu, có vị hăng của nước măng chua, vị bùi của lạc rang, vị cay của mắc khén thì món ăn đạt chất lượng.

Cá Khô Một Nắng

Người dân Tây Bắc ăn rất nhiều cá nên các món ăn chế biến từ cá của họ cũng rất phong phú, những loại cá ăn không hết thì người dân nơi đây thường phơi khô để dự trữ vào mùa đông. Vì thời điểm mùa đông người dân Tây Bắc rất khó đánh bắt cá do điều kiện thời tiết trên các vùng núi rất khắc nghiệt và nguy hiểm. Dân tộc sử dụng cá khô nhiều nhất là người Thái và cá khô của người Thái cũng được chế biên ngon nhất.

Thường người Thái sử dụng cá suối loại nhỏ, khi bắt lên bờ sẽ ướp muối, ớt, hạt tiêu rừng rồi phơi nắng. Khi ăn chỉ cần kẹp vỉ nướng than hồng.

Đối với cá khô của người dân Tây Bắc mọi người có thể mua về làm quà hoặc trực tiếp sử dụng cho gia đình. Món cá khô này ngoài nướng thì mọi người có thể chiên hoặc sốt cà chua, thậm chí là nấu canh cá đều rất ngon.

Thịt Băm Gói Nướng

Thịt trâu, bò hoặc lợn đều có thể làm món này. Thịt băm nhỏ độn thêm rau để ăn đỡ ngấy, cùng gia vị trộn đều. Lấy lá dong hay lá cây giềng, lá chuối gói kỹ rồi nướng trên bếp lửa. Các lớp lá bên ngoài sẽ bị cháy xém, toả ra mùi thơm hấp dẫn. Mùi thơm này cũng sẽ được thịt hấp thụ để tạo ra hương vị riêng.

Người Thái thường thích ăn những món nướng, phù hợp với việc ăn xôi. bà con thường chế biến các loại thịt động vật, côn trùng, cá bằng phương pháp nướng. Nếu nướng trên lửa, than hồng gọi là chí hoặc pỉnh; nướng vùi tro nóng gọi là pho. Món thịt gói lá cũng là món ăn hàng ngày, tùy từng loại thịt: lợn, trâu, bò….mà cho các loại gia vị khác nhau gồm: muối, ớt, hành, mì chính, ớt, tỏi, gừng, sả, mák khén. Để chế biến món này, người ta băm nhỏ thịt, cho gia vị vào trộn đều để ngấm khoàng 10 phút, đem gói vào lá dong vùi vào tro bếp còn nóng. Khi nào lá dong xém vàng, thấy mùi thơm của thịt và gia vị là thịt đã chín. Để cho đỡ ngấy người ta có thể băm nhỏ rau cải, vắt bớt nước trộn vào thịt. 

Bánh Chưng Đen

Bánh chưng hay còn gọi là bánh chưng cẩm là món bánh không thể thiếu trong mâm cỗ cúng gia tiên của người dân tộc Thái Tày Thanh (Thái đen) ở Quỳ Hợp, Nghệ An. Bánh được nhuộm đen, có vị bùi bùi, thơm mát, không gây nóng cổ, nóng bụng như bánh chưng bình thường. Nguyên liệu chính chỉ là gạo nếp trắng và được nhuộm đen bằng tro rơm, chứ không phải làm từ nếp cẩm hay là loại nếp có màu đen tự nhiên. Để bánh có màu đen đẹp bóng, ngay từ tháng 10 âm lịch, sau vụ gặt lúa mùa, người ta chọn nếp và rơm cất sẵn. Nếp phải chọn loại nếp dẻo thơm nhất, lựa bông đẹp, chắc hạt, đạp lấy hạt, giã đến khi trắng. Rơm chọn những cọng nếp, to, vàng ươm, đem về phơi khô, đốt thành tro, vò kỹ, rây lấy phần mịn nhất rồi trộn với gạo nếp thơm. Công đoạn cầu kỳ nhất là trộn bột tro nếp với gạo sao cho khi thử miết mạnh hạt gạo trên đầu ngón tay, thấy vẫn tròn vẹn màu đen nhánh mới đạt. Ngoài ra, trước khi gói bánh thêm ít hạt Nga Chiếng (một loại vừng mọc tự nhiên trong rừng – PV) xay nhỏ trộn vào để tạo vị đậm đà cho bánh. Công thức pha trộn thì tuốt bao nhiêu lúa thì lấy bấy nhiêu rơm. Bánh chưng đen thường thì không có nhân, lá gói bánh cũng dùng lá dong rừng rửa sạch, lau khô mới đem gói.

Việc chuẩn bị nguyên liệu cho bánh chưng đen chỉ có người con dâu trưởng trong nhà làm, gói bánh và luộc bánh do đàn ông trong nhà có kinh nghiệm và khéo tay làm. Các thành viên khác chỉ phụ giúp. Bánh đen người Thái được gói theo 4 loại. Đầu tiên là “Khâu tôm kháu khoài” (bánh sừng trâu) -bánh nhọn, hình sừng con trâu. Loại bánh này có ý nghĩa cầu cho đàn trâu khỏe mạnh, sinh sôi để cày kéo. Loại thứ hai là bánh “Khâu tôm cộp” (Bánh đôi) – mỗi chiếc bánh là một cặp đôi gói nhỏ, hình trụ. Bánh thể hiện quan điểm cầu may cho gia đình hạnh phúc. Loại bánh thứ ba là: “Bánh Khâu tôm khuản tụ” (Bánh gậy) – gói bánh hình chiếc gậy. Loại bánh này có ý cầu cho người già được sống lâu. Loại bánh thứ tư là “Khâu tôm pom” (Bánh hình vuông nhỏ). Bánh lớn hơn hộp diêm, buộc thành chùm, mỗi chùm 5 bánh. Loại bánh này có ý nghĩa cầu cho sung túc, mọi sự tròn trịa, đầy đủ trong năm mới. Mùi gạo nếp thơm quyện với mùi tro nếp khiến người ăn có cảm giác như đang được giao hòa cùng cỏ cây, ruộng đồng, cùng thiên nhiên hoang sơ miền Tây xứ Nghệ. Nét độc đáo của bánh chưng đen còn ở vị bùi bùi, thơm mát, không gây nóng cổ, nóng bụng như bánh chưng thường nên có tác dụng “hạ hỏa”. Theo quan niệm của người Thái xưa, tài khéo léo khi gói bánh chưng đen là một tiêu chí để chọn nàng dâu. 

Rau Dớn

Cây rau dớn mọc ven khe suối xen lẫn với các loại cây cỏ khác. Có nơi, mọc thành vạt, thành đám rộng dưới những tán cây rừng râm mát. Rau dễ chế biến, có thể xào, luộc, nấu canh, muối chua, làm nộm nhưng món xào là phổ biến và ngon nhất. Người ta hái rau chọn phần mềm tươi non, sau đó trụng sơ qua nước sôi rồi vớt ra để ráo. Dầu thực vật như dầu phộng là loại thích hợp nhất để xào rau dớn. Đập củ tỏi, phi thơm rồi cho rau dớn vào đảo đều năm phút; bắc xuống nêm bột ngọt, tương ớt, hạt tiêu, nước chanh tươi, đậu phộng rang giã nhỏ… Theo các thầy thuốc, rau dớn có tính mát, lợi tiểu,chống táo bón, làm ngưng các cơn đau âm ỉ do viêm đại tràng và giúp dễ ngủ, ngủ sâu. Rau dớn là món ăn lành, cùng với các loại rau củ quả khác có thể giúp đồng bào miền núi trước đây chống chọi với nạn đói trong mùa giáp hạt hay mùa màng thất bát. 

Rêu Đá

Rêu tau là loại rêu mảng ở các ao hồ hoặc khe suối không bám chặt vào đá, khi lượm chỉ cần dùng thanh tre, gạt rêu vào giỏ.

Theo người già thì rêu suối gắn liền với một câu chuyện tình rất bi thương của người Thái và sự tích về ngòi Thia, dòng suối lớn nhất của Mường Lò và Tây Bắc, lòng suối rộng đến 150 mét, nước quanh năm rào rạt.Thia theo tiếng Thái có nghĩa là nước mắt, và ngòi Thia chính là nước mắt của một cô gái Thái.

Người Thái lấy rêu làm món ăn chính trong lễ cưới hỏi dân tộc thể hiện khát vọng tuổi trẻ, tình yêu, sự thủy chung, may mắn và hạnh phúc. Rêu ở ngòi Thia do đó cũng được xem là thơm ngon nhất ở Tây Bắc.

Với người Thái, rêu không ai gieo trồng mà tự mọc là một món quà trời cho không bao giờ cạn kiệt. Chỉ cần giữ gìn nguồn nước cho thật sạch, là rêu mọc rất tốt nhất là ở sông Đà, sông Mã.

Làm món ăn này rất công phu, tốn nhiều thời gian và công sức vì rêu chỉ mọc theo mùa từ tháng 9, tháng 10 âm lịch đến hết tháng 3. Rêu đá là món ăn không phải ai cũng dám thử, tuy nhiên rêu sau khi lấy về làm sạch chỉ để được sau hơn 2 tiếng là hỏng nên phải chế biến ngay. Rêu thường mọc ở nơi các nguồn nước chảy mạnh. Có nhiều loại rêu đá nhưng loại được ưa chuộng nhất thường mọc thành sợi dài bám vào mỏm đá ở suối. Người ta lấy bằng cách tách từng đoạn nhưng không lấy phần sát viên đá vì nó già, ăn không ngon, sau đó dùng chày gỗ đập rêu để làm bung lớp đất cát bám bên ngoài rồi nhặt sạch. Món rêu có thể làm canh, nộm, nướng… Gia vị để tạo nên món ăn này là gừng, mùi, hạt tiêu rừng, có thể thêm ớt nướng giã nhỏ. Khi ăn có vị dẻo thơm, dậy mùi gia vị cay cay, tê tê ở đầu lưỡi.

Nộm Hoa Ban

Hoa ban là loài hoa đặc trưng của núi rừng Tây Bắc. Mùa xuân đến khi hoa ban nở rộ khắp các bản làng vùng cao, đồng bào dân tộc Thái thường đi hái hoa về đem bán ở các chợ như một thứ rau sạch, hay chế biến thành những món ăn ngon. Hoa ban được hái là những bông hoa đã nở rộ, phải hái sao cho không đụng đến nụ hoa để mùa sau hoa còn nở nhiều. 

Hoa ban chỉ nở vào tháng 3 đến 5 nên để thưởng thức món này du khách phải tìm về Tây Bắc đúng dịp.

Để chế biến món nộm cần có cả hoa và lá, lá phải vừa tới tầm bánh tẻ, hoa phải còn tươi, tốt nhất là hoa vừa mới nở. Hoa ban được để nguyên cả cuống đem rửa sạch cùng với lá. Bắc nồi nước trên bếp thật sôi để luộc hoa ban, cùng lúc đó cời than lửa để nướng cá suối vì món nộm hoa ban muốn ngon phải trộn thêm thịt cá. Nước sôi, thả hoa ban vào luộc kĩ cho hết vị chát, đồng thời chuẩn bị gia vị để trộn nộm. Không như món nộm của bà con dưới xuôi thường có lạc, có chanh, mang vị chua ngọt…, gia vị trộn hoa ban nhất thiết phải có “thú nau” (một loại tương ủ lên men của người Thái), giềng non giã nhỏ. Hoa ban luộc chín để nguội, trộn tương, trộn giềng, trộn các gia vị như muối, ớt, tỏi, mùi tàu, mắc khén và thịt cá nướng, nêm cho vừa miệng ăn.Vị chua chát nhẹ thường ăn kèm với các món nướng để đỡ ngấy.

Cách chế biến món nộm hoa ban khá cầu kì, bởi vậy chỉ thường làm khi trong nhà có khách quý. Nộm hoa ban mang hương vị đặc biệt, thể hiện sự tinh tế trong ẩm thực của người Thái. Lên cao nguyên Mộc Châu mùa ban nở, thưởng thức nộm hoa ban, du khách sẽ có một trải nghiệm thú vị, thêm yêu loài hoa được mệnh danh là linh hồn của núi rừng Tây Bắc.

Măng Rừng

Khi nhắc đến Tây Bắc, chúng ta thường nghĩ đến những ngọn núi hùng vĩ, những con suối thơ mộng, những thửa ruộng bậc thang trải dài đầy quyến rũ. Tuy vậy, Tây Bắc không chỉ hấp dẫn bởi cảnh đẹp nên thơ mà còn bơi những món ăn ngon mang đậm hương vị núi rừng, trong đó không thể không kể đến món măng rừng.

Người Tây Bắc ở gần rừng, gắn bó với rừng nên rất giỏi trong việc tìm kiếm các đặc sản từ rừng và cũng vô cùng khéo léo trong việc chế biến chúng thành các món ăn ngon, làm say làm bao du khách thập phương.

Chỉ sau vài cơn mưa, đất ẩm, măng rừng lại nhú lên. Mây hôm đầu chỉ có lác đác vài ngọn nhưng chỉ mấy hôm sau cả rừng măng mọc lên tua tủa như chông như mác. Rừng Tây Bắc có rất nhiều loại măng, mỗi mùa thì lại có một loại măng khác khau.

Mọc vào mùa mưa, có hai loại măng đắng và măng ngọt. Trong đó, măng đắng thích hợp cho những người ưa nhậu bởi vị đắng khi đưa vào miệng sau sẽ chuyển thành vị ngọt nhẹ. Măng có thể nướng, luộc, ngâm với dấm ớt để làm gia vị.

Đến Tây Bắc mùa này, du khách sẽ bị choáng ngợp bởi những gùi, những đống măng xếp la liệt. Măng rừng Tây Bắc được bày bán khắp các chợ, các ngõ xóm, thôn bản. Măng sau khi lột hết vỏ và phần già được luộc qua, rồi xé nhỏ mới đem xào. Măng đắng thường được xào tỏi hoặc xào với thịt trâu, lá lốt.

Hay đơn giản hơn là món măng đắng luộc chấm chẳm chéo. Người sành ăn măng đắng thì nướng lên ăn mới thật đã. Những tưởng vị đắng đó sẽ khiến cho nhiều người không thích nhưng không ngờ chính cái hương vị là lạ đó lại là món quà quý được người dân nâng niu làm quà biếu cho khách quý.

Bỏ một miếng măng vào miệng, gặp ngay vị đắng nhưng không phải là cái đắng ngắt khó ăn mà vị đắng vô cùng đặc biết, quyến rũ như một nàng sơn nữ đầy bí hiểm, còn bao điều để khám phá.

Theo kinh nghiệm của người dân Tây Bắc thì đi hái măng rừng phải chọn tỉa để kích thích cây tre già đâm măng nhiều hơn. Đầu mùa, khi những mầm măng còn có vị ngọt xen lẫn vị đắng là người dân vào rừng đào măng, cứ hễ có tiếng sấm là măng lại chuyển sang vị đắng nhanh chóng.

Không chỉ có măng đắng, mà mùa xuân còn có một loại măng rất ngon đó là măng sặt. Măng sặt được thực khách bình chọn là một trong những loại măng rừng ngon nhất của vùng Tây Bắc.

Ngược lại với măng đắng, măng sặt rất ngọt, ít xơ và rất thơm. Với du khách phương xa, măng sặt là món ăn dễ chế biến và ăn mãi cũng chẳng hề thấy ngán. Ngọn măng sặt đặc, ngọt lịm, không có mùi he, xào với cà chua rất tuyệt. Còn đập dập om với thịt lợn ba chỉ cũng khiến bao thực khách say mê. Chỉ cần một lần nếm thử sẽ chẳng ai quên được hương vị thanh khiết, đặc trưng như còn tươi nguyên mùi đất rừng của Tây Bắc.

Khi xuân qua, hè về thì lại có măng nứa. Măng nứa mỏng, trắng ngần dùng để xào tỏi hoặc hầm với xương. Ăn giòn giòn rất thú vị. Măng nứa mà làm măng chua nấu cùng với thịt gà thì ngon không còn gì bằng.

Đến Tây Bắc, nhất định phải thử món măng nộm hoa ban. Đây là một món ăn cực kì độc đáo của người Thái Tây Bắc. Ngoài nguyên liệu chính là măng và hoa ban thì món này còn có thêm thịt cá nướng, những con cá bắt ở suối thơm phức vô cùng hấp dẫn. Món ăn là sự hòa quyện của tất cả hương vị: đắng, chua, cay, ngọt, mặn, bùi mà hiếm có món nào có được.

Ngoài các loại măng tươi, thì măng rừng khô cũng được nhiều người ưa thích và mua về làm quà khi lên Tây Bắc. Từng miếng măng vàng ươm còn thơm mùi nắng nấu món gì cũng ngon, nào măng xào miến, măng xào lòng gà hay nồi canh măng hầm xương đậm đà.

Có thể nói măng rừng chính là món quà quý mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Tây Bắc. Từng đọt măn tươi xanh, đội đất nhú lên, vừa giản dị vừa kiên cường như chính con người Tây Bắc.

Hạt Mắc Mật

Cái vị bùi bùi, ngậy ngậy của hạt mắc mật hẳn đã mê hoặc nhiều người khi thưởng thức. Những món ăn làm từ mắc mật thường có hương vị rất đặc trưng mà khó có thể lẫn với những món khác. Có mắc mật dường như món nào cũng trở nên hấp dẫn, đặc biệt là các món nhiều thit, nhiều dầu mỡ mà có mắc mật thì sẽ đỡ ngán rất nhiều, ăn không chán mà lại rất tốt cho sức khỏe.

Hạt mắc mật khô hay quả mắc mật tươi cả quả sóng sánh với nồi thịt, cá kho, măng chua…Thì thật là khó tả. Cũng có thể chế biến thành nhiều món khác nhau: kho với cá hay thịt ba chỉ hoặc ngâm dấm ớt hay om lên và chấm với muối vừng ăn vừa thơm vừa bùi.Cách chế biến món thịt kho mắc mật cũng giản đơn như hình dáng của nó vậy. Phải chọn những quả móc mật to, mỡ màng cùng với miếng thịt ba chỉ còn tươi nguyên thì món thịt kho móc mật mới thơm ngon, đúng vị. Thịt kho móc mật cũng phải đúng kiểu. Đun nước hơi sủi tăm thì nhấc nồi khỏi bếp. Cho móc mật và một chút muối vào nồi và đậy vung lại. Vậy là được một nồi thịt kho móc mật thơm ngon.

Xôi Trứng Kiến Đen

Một trong những món ăn lạ miệng đó có món “xôi trứng kiến” – đặc sản của người dân tộc Tày mà nếu có cơ hội thưởng thức bạn sẽ không thể quên được hương vị thơm ngon, ngòn ngọt, bùi béo mà lại không hề ngấy của món xôi hấp dẫn này.

Xôi trứng kiến được làm từ thành phần chính là gạo nếp nương và trứng của kiến đen ở trong rừng. Thêm vào đó là các gia vị làm nên mùi hương thơm lừng hòa quyện trong từng hạt xôi mềm dẻo là củ kiệu phi thơm với mỡ gà, và được gói trong lá chuối ngự.

Trứng kiến nhỏ, nên có khi phải đi cả ngày đường mới có thể tìm được một, hai cân. Mà cũng không phải là trứng của loại kiến nào cũng có thể lấy để nấu xôi đâu nhé, chỉ có loại kiến nâu làm tổ trên ngọn cây, có nơi còn gọi là kiến ngạt, kiến cong trôn mới cho trứng béo ngậy và nhiều đạm.

Tìm được tổ kiến rồi, công đoạn lấy trứng cũng lắm gian nan. Lấy trứng cũng phải có nghệ thuật nếu không sẽ bị kiến tấn công ngay. Dụng cụ lấy trứng cũng rất đơn giản, chỉ là một chiếc câu liêm, một chiếc rựa, một thúng và một sàng. Khi đã lấy được tổ kiến xuống rồi, bạn phải thật khéo léo để gỡ trứng ra khỏi những con kiến.

Quan sát nhưng chẳng ai thấy kiến chúa bao giờ và cũng chẳng biết chúng sinh hoạt ra sao, chỉ biết chúng thường làm tổ trên những chạc cây không cao lắm. Tổ bé thì bằng cái tô, to bằng ấm hãm nước uống. Tổ được kết từ lá khô mục, gió rung không rụng, mưa xối không ướt. Từng đàn kiến ra vào trong trật tự, không cắn nhau mà cũng chẳng tranh giành.

Sang xuân kiến vào mùa sinh sản, nhưng thật sự mùa trứng kiến chỉ từ tháng ba đến tháng tư âm lịch. Tiết trời ấm áp, cây cối xanh tươi, khi những hạt trứng li ti lớn dần trong tổ, to bằng hạt gạo là lúc người dân thu lượm mang về. Dụng cụ là một chiếc rá to được buộc cán dài hơn sải tay, thân cán buộc túm hoa cỏ tranh để kiến không theo cán mà bò vào người.

Người dân trong vùng thường dùng cách thả một chiếc lá vào giữa thúng cho kiến mẹ bu lấy chiếc lá rồi đem vứt đi. Cứ làm như vậy cho tới khi hết kiến, chỉ còn những hạt trứng tròn, béo ngậy và vàng óng thì thôi.

Có nhiều món làm từ trứng kiến nhưng thông thường người dân sử dụng trứng kiến để đồ xôi. Món xôi trứng kiến được làm từ gạo nếp nương, có thêm mỡ, hành và hạt tiêu, gia vị.

Món xôi trứng kiến còn là một món ăn không thể thiếu được trong lễ hội của người Tày, đặc biệt là trong dịp tết Hàn Thực ngày mùng 3 tháng 3 Âm lịch hàng năm, người dân tộc Tày đều thổi xôi trứng kiến hoặc bánh trứng kiến để cúng tế Thành Hoàng làng. Món xôi trứng kiến sau khi làm xong có vị béo của mỡ hành, bùi bùi của trứng kiến, dẻo thơm của xôi nếp. Khi ăn nghe tiếng trứng kiến nổ lép bép trong miệng mới thấy hết cái thú vị của món ăn này. Bất kỳ ai một lần được thưởng thức xôi trứng kiến cũng sẽ nhớ mãi.

Kể sao hết những đặc sản Tây Bắc, chỉ có đến tận nơi, thử tận tay, nhìn tận mắt, mới hiểu thấu nét ẩm thực vùng cao phong phú và khác lạ đến nhường nào.

Cá Bống Vùi Tro

Cá bống thường được bắt ở các sông suối nên không to lắm và được chế biến cực kỳ công phu. Cá được ướp với rất nhiều gia vị sau khi làm sạch như: gừng, tiêu, sả, ớt… rồi bọc trong lá dong, vùi trong tro. Khi thưởng thức bạn sẽ cảm nhận được vị béo ngậy nhưng không ngán của cá. Bên cạnh đó là mùi thơm nhẹ của lá dong đem lại cảm giác lạ miệng.

Cháo Ấu Tẩu

Gạo nếp cái hoa vàng thơm lừng như mời gọi thực khách, cùng vị bùi của củ ấu được hầm nhừ với nước dùng giò heo béo ngậy. Bên cạnh đó, cháo ấu tẩu còn được ăn kèm với trứng gà và một số gia vị giúp món ăn dậy mùi thơm ngọt ngào. Đặc sản này thường được bán vào buổi tối trong những ngày đông lạnh giá tại Hà Giang.

Rượu Ngô

Ai đã từng đặt chân đến vùng cao Tây Bắc, hẳn được thưởng thức đặc sản rượu ngô của dân tộc Mông. Và khi trở về, bạn sẽ không thể quên tình cảm bà con dành cho khách phương xa qua chén rượu nghĩa rượu tình.

Người Mông thường nói rằng: “Đã ăn thắng cố mà không thưởng thức rượu ngô thì coi như là nhà mất tết, trong người không thấy thỏai mái”, đủ để thấy rượu ngô được coi là đặc sản của người Mông. 

Rượu ngô Thanh Vân (Hà Giang), rượu ngô Bắc Hà (Lào Cai) hay rượu ngô Na Hang (Tuyên Quang) trở nên nổi tiếng vì những “bí kíp” được giữ gìn và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác.
 
Theo kinh nghiệm của những người nấu rượu lâu năm, đầu tiên phải kể đến nguồn nước, lấy từ khe núi, vách đá, từ trên đỉnh núi cao, nước trong như nước khoáng đóng chai. Rồi đến chọn giống ngô.

Để làm ra được những giọt rượu nguyên chất, người Mông gìn giữ bí quyết riêng của mình, gồm: nguồn nước, loại ngô và loại men. Nhưng tất cả những bí quyết đó nếu không đi cùng cái tâm của người nấu rượu thì vẫn không ra được thứ rượu ngô ngon đặc biệt. Và đồng bào Mông thường mời khách bằng chén rượu họ mất nhiều công để nấu ra, ngụ ý rằng: chén rượu này là từ tâm, là mến khách, là thật tình yêu quý. Có thế mới trở thành tình thân, mới nhớ nhau lâu dài…

Người Mông quan niệm: “uống rượu cùng với bằng hữu, như có sợi dây yêu thương khăng khít, trong lòng trào dâng lời hay, ý đẹp, nói lên những điều mới mẻ, ý nghĩa mà bình thường không nói được”.

Thắng Cố

Thắng Cố là món ăn truyền thống của người H’Mông, có nguồn gốc từ vùng núi Hà Giang, phía Đông Bắc và dần được ưa chuộng bởi toàn bộ những người dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc. Người Hà Nội tự hào về phở, người Sài Gòn tự hào về cơm tấm bao nhiêu thì người dân vùng Tây Bắc cũng tự hào bấy nhiêu vì món thắng cố của mình.

Trước kia, thắng cố truyền thống được chế biến từ một con ngựa, không bỏ đi bất cứ thứ gì. Sau này, thắng cố được các dân tộc khác cải biến thêm thịt bò, trâu, … và sáng tạo ra nhiều loại công thức nấu khác nhau mang đặc trưng của từng dân tộc. Tuy nhiên, thắng cố ngon nhất vẫn là thắng cố ngựa ở vùng Bắc Hà, Mường Khương, Sa Pa – Lào Cai.

Thắng cố được nấu khá đơn giản với 12 thứ gia vị truyền thống bao gồm thảo quả, hoa hồi, quế chi, sả, gừng, và nhiều loại gia vị đặc biệt khác của dân tộc vùng cao. Trong đó, cây thắng cố chính là loại gia vị cuối cùng. Thịt và nội tạng con vật được rửa sạch, luộc chín, ướp trước với các loại gia vị, sau đó thả vào nồi nước dùng có xương ngựa, nội tạng, tiết và 12 loại gia vị kể trên đã được đun sôi, rồi cứ thế ninh nhừ hàng tiếng đồng hồ cho ngấm đẫm gia vị. Khi ăn, người thưởng thức có thể thêm một chút ớt, tiêu hoặc muối.

Các Món Ăn Từ Gạo Nếp

Ở Tây Bắc có rất nhiều loại gạo thơm ngon có tiếng nhưng được chế biến cầu kỳ nhất vẫn là các loại gạo nếp và trong số những người dân tộc Tây Bắc thì người Thái có nét ẩm thực về gạo nếp là đặc biệt nhất.

Ẩm thực của đồng bào Thái rất phong phú, mỗi món có một nét độc đáo mà ai thưởng thức một lần cũng nhớ mãi. Món ăn được làm từ gạo nếp của người Thái cũng có sức hút riêng biệt. Đồng bào Thái dùng lúa, gạo làm lương thực chính, lúa thì gồm có lúa nếp và lúa tẻ. Trước đây, gia đình chị cũng như bà con nơi đây chủ yếu trồng lúa nếp. Ngoài để ăn trong gia đình, lúa nếp thường được trao đổi, bán ở chợ để mua sắm đồ dùng thiết yếu. Hiện nay nhằm đảm bảo nhu cầu về lương thực nên người Thái đã đem các loại giống lúa tẻ cho năng suất cao vào trồng cấy. Tuy nhiên thói quen ăn nếp vẫn còn tồn tại đậm nét trong mỗi gia đình. Người Thái có phương pháp đồ xôi bằng chõ gỗ rất độc đáo. Trước khi xôi, bà con vo sạch gạo,ngâm nước chừng 5h – 6, vớt ra để ráo nước rồi cho vào chõ. Chõ được làm bằng thân gỗ mềm, khoét rỗng ruột, một đầu to hơn để đậy vung, một đầu nhỏ hơn (vừa với miệng của nồi đồ xôi) được cài kín bằng miếng phên nhỏ đan bằng nứa hoặc cật giang. Khi xôi giữ đều lửa, xôi chín bằng hơi, thơm, dẻo, không dính tay. Khi xôi chín, lấy ra mâm, quạt bớt hơi nóng rồi cho vào “coóng khẩu” hoặc gói bằng lá dong bánh tẻ cho cơm dẻo, giữ mùi thơm lâu. Chị Đèo Thu Hiền, dân tộc Thái xã Mường So, huyện Phong Thổ, hiện là chủ quán chuyên các món đặc sản dân tộc Thái tại Phường Đoàn Kết, Thành phố Lai Châu cũng chia sẻ bí quyết để món xôi nếp của dân tộc Thái luôn hấp dẫn bởi sự dẻo, thơm, đậm đà là ngoài việc lựa chọn gạo, ngâm gạo thì xôi luôn được “qua lửa” 2 lần. Lần thứ nhất cho gạo vào nồi đồ tới khi xôi chín tới thì bỏ ra, quạt cho nguội, sau đó lại cho vào nồi đồ lần thứ 2. Vào các ngày tết “bươn chiêng”, “síp xí”, người Thái thường sử dụng nước lá cây nhuộm màu cơm nếp ở rừng, nước củ nghệ già ngâm gạo để khi chín cơm xôi có các màu sắc đỏ, tím, vàng, xanh, đen…Xôi màu không chỉ tạo cảm giác thích mắt, ngon miệng mà còn hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống.

Ví như màu tím tượng trưng cho tình người thủy chung, màu vàng là màu của đất đai, sự trù phú, màu xanh của núi rừng… Ngoài ra, người Thái còn dùng gạo nếp làm thành nhiều món khác như: Khẩu tổm (bánh chưng): gói bằng lá dong, gạo nếp xóc để ráo, cho thịt, đỗ và gia giảm vào nhân, gạo, khi gói gấp hai mép lá vào nhau, 2 đầu lá bẻ ngược về mặt sau, bánh có hình gù (giống như 1 quả đồi); Khẩu háng (cơm cốm) làm trong khoảng tháng 8, tháng 9 âm lịch, lấy lúa về khi hạt lúa căng sữa, tuốt lúa và rang lên, giã và xảy sạch vỏ trấu, ăn vừa dẻo bùi, vừa thơm ngậy và khẩu lam (cơm lam), dùng gạo nếp đã ngâm cho vào ống nứa, vầu, đốt trên lửa nhỏ cho chín rồi ăn, dùng cho phụ nữ sau đẻ, nhất là những người đi nương, đi du lịch hay công tác, vừa ngon vừa tiện lợi. Đặc biệt, từ món xôi nếp dùng ăn hàng ngày người Thái còn chế biến thành món khác như “khẩu bái”, tức là dùng một nắm xôi, cho bất kỳ loại thức ăn nào vào giữa, nắm chặt rồi ăn, rất dân dã mà lại ngon. Có thể kể ra như “khẩu bái pa” (cơm nắm cá), “khẩu bái ná nga” (cơm nắm vừng), “khẩu bái sáy” (cơm nắm trứng) hoặc món “khẩu chí” (xôi nướng) khác nhau. Ngày nay, khi du lịch văn hóa cộng đồng phát triển, xôi nếp của đồng bào Thái đã và đang là món ăn phổ biến được yêu thích của du khách, vừa giữ gìn nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Thái, vừa mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho bà con.

Lạp Sườn Hun Khói

Lạp sườn (hay người miền nam còn gọi lạp xưởng) là đặc sản mang nét độc đáo riêng của đồng bào dân tộc Tày Nùng ở miền Cao Bằng, được làm để ăn quanh năm. Đến nhà nào vùng núi từ Lạng Sơn, Yên Bái, Cao Bằng…, chui vào nơi xó bếp ám mùi khói đen bồ bóng, thấy lủng liểng trên chái bếp những khúc lạp xưởng ngon lành trên ấy mà thèm.

Lạp sườn Cao Bằng có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bã mía, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mùi mắc mật thơm một cách đặc biệt.

Chế biến cầu kỳ, làm từ thịt lợn mán đen nên chắc, ngọt, có mỡ cũng không ngán.

Khi ăn có vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng.

Phù hợp cả ăn kèm cơm và món nhậu. Làm đãi khách hoặc làm quà tặng độc đáo.

Chế biến phong phú. Có thể nấu xôi, cơm chiên (cơm rang), trứng đúc thịt, trứng cuốn lạp sườn… hoặc chấm với mù tạt vàng làm món nhậu ngon hơn cả xúc xích Đức

Nguyên liệu chính vẫn là thịt lợn ba chỉ, lòng lợn và gia vị. Thịt chế biến xong được ướp ngấm gia vị và nhồi vào lòng, để lên gác bếp. Khói bếp sẽ tạo ra hương thơm đặc trưng và độ ngậy vừa phải cho món ăn.

Lạp sườn vùng tùy vùng sẽ được chế biến và nêm nếm gia vị có điểm khác biệt. Lạp sườn ở Cao Bằng to hơn và được chế biến cầu kỳ hơn vùng đồng bằng. Lòng non được rửa thật sạch bằng rượu trắng. Nhân làm lạp xưởng là thịt thăn, nạc vai hoặc nạc mông, những phần ngon của thịt lợn mán đen. Thịt được băm nhỏ, tẩm ướp với gia vị, hành băm phi thơm, đặc biệt không thể thiếu hạt mắc khén cùng chút rượu tạo mùi thơm khác biệt. Nhồi nhân thật chặt vào ruột, sao cho miếng lạp xưởng tròn đều và căng mượt. Nhân được nhồi căng, đem phơi dưới nắng khoảng 3 ngày rồi treo lên gác bếp hoặc hun khói với bã mía. Hơi ấm của lửa sẽ làm lạp xường se lại, săn chắc, lại càng thơm đậm đà với mùi ngọt thoảng của bã mía. Lạp sườn được nắng, được hơi lửa, cứ ánh lên màu đỏ hồng của thịt nạc xen những đường vân trắng ngà của thịt mỡ trông thật hấp dẫn.

Khi ăn, bạn nhớ  nhai thật chậm, thật kỹ, nhắm mắt lại để cảm nhận mùi của nắng vùng cao Tây Bắc, mùi của khói bã mía, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mùi mắc mật thơm một cách đặc biệt, nhấp thêm chén rượu cay xè là tuyệt hảo cho một buổi gặp gỡ bạn bè.

Nhót Xanh Chẩm Chéo

Gia vị đồ chấm tạo nên món ăn này. Với bắp cải, tỏi tươi, gừng, nhót chấm với muối chẩm chéo hoặc nước mắm được pha chế cầu kỳ từ nhiều loại rau củ. Khi ăn có cảm giác cay của gừng tỏi ớt nướng, chát của nhót, quện vị hạt tiêu rừng. Người nếu đã ăn món này một lần sẽ nhớ mãi vì chỉ cần nói đến tên thôi sẽ lập tức lên cơn thèm.

Ghé chợ trong mây Thung Khe thưởng thức đặc sản Tây Bắc

Thung Khe là một cung đèo hiểm trở, quanh năm mây mù sương phủ. Trên đỉnh đèo có một ngôi chợ rất thú vị, được nhiều du khách gọi là chợ trong mây, bán những đặc sản Tây Bắc.

Chợ trên đỉnh đèo Thung Khê là điểm dừng chân thú vị của du khách từ Hà Nội lên Mai Châu

Đèo Thung Khe (Hòa Bình), là một trong những cung đèo hiểm trở nhất Việt Nam, cùng với Ô Quy Hồ, Khau Phạ, Mã Pí Lèng, Pha Đin… Không chỉ thu hút các “tay lái lụa” tìm đến để chinh phục những con dốc nguy hiểm, Thung Khe còn đặc biệt thú vị với những du khách thích khám phá bởi nơi đây có một ngôi chợ trong mây trên đỉnh đèo.

Nhóm bạn trẻ phượt xe máy thích thú với những sản vật ở chợ

Ban đầu, chợ chưa hình thành, chỉ là một bãi đất để những chuyến xe lên Tây Bắc dừng lại nghỉ ngơi. Khi Mai Châu (một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Hòa Bình, cách trung tâm Hà Nội khoảng 130 cây số) trở thành khu du lịch homestay thu hút, thì cung đường Mai Châu hai ngày một đêm lúc nào cũng tấp nập xe khách.

Có rất nhiều đặc sản để các bạn lựa chọn

Trên cung đường đó, đèo Thung Khe là điểm dừng chân thú vị với một ngôi chợ nhỏ tự phát. Đó là khi những người dân địa phương tìm đến bãi nghỉ, bày bán những mặt hàng nông lâm sản, rồi thực phẩm, thức ăn… nhằm có thêm thu nhập cho cuộc sống gia đình.

Mật ong rừng, ớt ngâm măng, tỏi… mua về làm quà

Mộc Châu gần như quanh năm mát lạnh, vùng núi cao luôn có sương mù phủ kín mặt đường, nhất là vào mùa đông, nên chợ Thung Khe đã được nhiều người đi du lịch lãng mạn gọi là “chợ trong mây”. Ngoài việc bày bán các loại sản vật của núi rừng Mộc Châu, chợ còn là nơi để lữ khách trên những chuyến xe đường dài dừng chân nghỉ ngơi, lót dạ với một bắp ngô tươi luộc hay một ống cơm lam, thịt nướng… Điều tuyệt vời nhất của ngôi chợ này là trong khi ăn, du khách có thể tha hồ phóng tầm mắt ngắm cảnh từ đỉnh cao của đèo xuống các thung lũng bên dưới.

Bắp luộc ngay tại chổ vừa ngọt vừa dẻo

Cơm lam dẻo thơm do được nấu từ gạo nương mua đi ăn dọc đường rất tốt

Chợ miền cao, mọi thứ đều là sản vật địa phương nên rất ngon. Ngô luộc thơm, dẻo vì là ngô tươi vừa bẻ từ ruộng lên. Cơm lam nấu từ gạo nương nên rất dẻo và thơm. Ngoài ra còn có rau rừng, mật ong, măng ngâm, thịt lợn mán và rất nhiều đặc sản Tây Bắc để mang về miền xuôi làm quà cho gia đình.

Gà đồi và thịt lợn mán mọi người có thể mua về làm quà

Với nhiều du khách, thật thú vị khi cùng trò chuyện với những người bán hàng nói tiếng Kinh lơ lớ như người… nước ngoài và được nhận những nụ cười thân thiện của họ dù khách có mua hàng hay không. Bởi thế nên dừng chân ở ngôi chợ trong mây này, giữa những người địa phương hiếu khách, trong khung cảnh núi rừng Mộc Châu tươi đẹp, dù Thung Khe quanh năm mát lạnh khách vẫn thấy rất ấm lòng. Và chưa rời gót đã hẹn ngày trở lại.

Và thật khó để kể tên hết tất cả các món ăn đặc sản của bà con trên khu vực miền núi Tây Bắc vì trên vùng đất này còn có rất nhiều dân tộc, rất nhiều vùng đất còn chưa được khai phá. Những món ăn cổ truyền của các làng bản còn chưa được kể hết, cách duy nhất là trải nghiệm là đi để khám phá. Chúng tôi chỉ đưa ra những thông tin tổng hợp, những điều đã được trải nghiệm, còn các bạn khi đi du lịch hãy thử những cái mới, hãy thưởng thức nhiều món ăn ngon hơn, hãy cho chúng tôi biết cảm nhận của các bạn về con người Tây bắc.

Xem thêm: Những Điểm Đến Thú Vị Nhất Định Phải Checkin Khi Đi Du Lịch Sapa

 

 

0969 870 707
back to top